Trong những năm gần đây, an ninh nguồn nước luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới. Ngày 22/11/2016, tại phiên thảo luận mở với chủ đề "Nước, Hòa bình và An ninh" được tổ chức bởi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Tổng Thư ký Ban Ki-moon khẳng định: “Liên hợp quốc đã tích cực thúc đẩy tiềm năng hợp tác về nước và “Ngoại giao nguồn nước”.”[1] Phát biểu trên đã cho thấy tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề nguồn nước hiện nay, đặc biệt là đối với Việt Nam - quốc gia phụ thuộc nhiều vào tài nguyên nước bắt nguồn từ các nước láng giềng. Tiếp nối chuyên mục “Từ điển Galileo”, hãy cùng Galileo Society khám phá những thông tin nổi bật về “Ngoại giao nguồn nước” ở hệ thống sông Mekong hiện nay nhé! 
Hiện nay, trên thế giới có gần 703 triệu người không được tiếp cận với nguồn nước và hơn 2 tỷ người không được tiếp cận với nước uống sạch và an toàn. Sự khan hiếm nước đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, an ninh lương thực, tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị.[2] Nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng đã có tác động vượt ra ngoài biên giới quốc gia và khiến nước trở thành tài nguyên chiến lược hàng đầu. Trong bối cảnh đó, “Ngoại giao nguồn nước” trở thành nền tảng hiệu quả để giải quyết nhiều thách thức về vấn đề nguồn nước.[3] Thuật ngữ “Ngoại giao nguồn nước” (tiếng Anh: Water Diplomacy) có thể được định nghĩa là việc sử dụng các công cụ ngoại giao để giải quyết hoặc giảm thiểu những bất đồng và xung đột về tài nguyên nước được các quốc gia sử dụng chung vì mục đích hợp tác, ổn định và hòa bình trong khu vực.[4] 
“Ngoại giao nguồn nước” gồm 4 đặc điểm chính. Thứ nhất, việc đàm phán các thỏa thuận, khung pháp lý về phân bổ, quản lý và chia sẻ nước được tất cả các bên liên quan chấp nhận. Thứ hai, các quốc gia giải quyết các tranh chấp hoặc xung đột tiềm ẩn liên quan đến tài nguyên nước thông qua các biện pháp hòa bình như hòa giải, trọng tài hoặc các quy trình hợp tác khác. Thứ ba, các quốc gia triển khai hợp tác để phát triển các dự án, cơ chế chung nhằm chia sẻ kiến thức và phát triển năng lực giữa các quốc gia cũng là một biện pháp hữu hiệu. Thứ tư, chủ thể tham gia “Ngoại giao nguồn nước” tương đối đa dạng, bao gồm: Nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cá nhân thuộc giới học giả, tư nhân, v.v.[5] “Ngoại giao nguồn nước” khác với những khái niệm có liên quan như “quản lý nước xuyên biên giới” hay “hợp tác tài nguyên nước”. Ví dụ, tại lưu vực sông Mekong, quản lý nước xuyên biên giới gồm những hoạt động kỹ thuật như: thu thập dữ liệu, giám sát dòng chảy, mô hình dòng chảy, v.v. để đảm
bảo dự báo và cảnh báo lũ thông qua các phương tiện kỹ thuật. Trong khi đó, khi có những xung đột và tranh chấp về các đập thủy điện, “Ngoại giao nguồn nước” cung cấp các công cụ ngoại giao, cơ chế đàm phán để giải quyết tranh chấp, đảm bảo sự hợp tác và ổn định khu vực.[6] 
Sông Mekong là con sông dài thứ 7 ở châu Á, cung cấp nguồn sống và nơi cư trú cho các cộng đồng ven sông dọc theo dòng chảy của nó.[7] Lưu vực của sông Mekong được chia ra thành hai phần: lưu vực thượng nguồn và lưu vực hạ nguồn. Lưu vực thượng nguồn sông Mekong gồm có cao nguyên Thanh Tạng, khu vực Tam Giang Tịnh Lưu (gồm sông Mekong, sông Dương Tử và sông Thanlwin) và lưu vực sông Lan Thương ở Trung Quốc và Myanmar. Ở hạ nguồn, sông Mekong đi qua 4 quốc gia gồm Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, sau đó đổ ra biển.[8] Theo Uỷ hội Sông Mekong, khoảng 80% của 65 triệu người sinh sống tại lưu vực sông Mekong đang phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của dòng sông. Điều này khiến việc phát triển bền vững của lưu vực sông Mekong trở thành một vấn đề quan trọng đối với môi trường và các cộng đồng dân cư đang sinh sống tại lưu vực.[9] 
Tuy nhiên, hiện nay, một số động thái xây dựng đập thủy điện của các quốc gia thượng nguồn như Trung Quốc và Lào đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái và đời sống an sinh của người dân ven bờ các quốc gia hạ nguồn, dẫn tới nguy cơ xung đột về an ninh nguồn nước. Theo thống kê của Uỷ hội sông Mekong, kể từ năm 1994, lượng phù sa chảy xuống hạ lưu hàng năm đã giảm hơn 300% - từ 160 triệu tấn (1992) xuống còn 47,4 triệu tấn (2020).[10] Bên cạnh đó, các dự án thủy năng đã tạo ra sự chênh lệch lưu lượng nước giữa mùa khô và mùa mưa, gây ra hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt ở vùng châu thổ sông Mekong ở Campuchia và Việt Nam.[11] Trước thực trạng trên, “Ngoại giao nguồn nước” được coi là công cụ hiệu quả nhằm giải quyết các tranh chấp giữa các nước thuộc Hệ thống sông Mekong. Tính tới hiện nay, trong khu vực sông Mekong có khoảng 15 cơ chế hợp tác và được chia thành hai nhóm bao gồm: nhóm các cơ chế nội khối (hợp tác giữa các quốc gia lưu vực sông Mê Công) và nhóm các cơ chế hợp tác giữa các quốc gia lưu vực sông Mekong với các đối tác bên ngoài.[12] 
Về các cơ chế nội khối, khuôn khổ được cho là có tính pháp lý và ràng buộc nhất đối với các quốc gia vùng Mekong là Uỷ hội sông Mekong (tiếng Anh: Mekong River Committee) được thành lập vào năm 1995 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Cơ chế này ra đời trên cơ sở bốn nước ký kết “Hiệp định về hợp tác phát triển bền vững sông Mekong” năm 1995 gồm 6 chương, 42 điều quy định các mục tiêu, nguyên tắc, phạm vi hợp tác, cơ cấu, v.v. nhằm tạo khung hợp tác chung cho các quốc gia trong khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên tại hạ vùng sông Mekong.[13] Bên cạnh đó còn sự tồn tại của các cơ chế khác, tiêu biểu là
cơ chế hợp tác Mekong - Lan Thương (tiếng Anh: Mekong - Lancang Cooperation) được thành lập năm 2016, có sự tham gia của 4 nước MRC cùng với Trung Quốc và Myanmar. Đây được coi là khuôn khổ hợp tác đầu tiên về tài nguyên nước toàn lưu vực có sự tham gia của tất cả các quốc gia ven sông để thảo luận về vấn đề quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước, thúc đẩy các quốc gia thượng nguồn chia sẻ thông tin, công khai hóa các dự án phát triển trên sông Mekong.[14] Ngoài ra, khu vực này còn có cơ chế Hợp tác Tiểu vùng Mekong Mở rộng (tiếng Anh: Greater Mekong Subregion) được thành lập năm 1992 theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với sự tham gia của 4 nước MRC với 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc. Cơ chế này có vai trò trong việc thúc đẩy các kế hoạch xây dựng hành lang kinh tế, đẩy mạnh hợp tác xuyên tiểu vùng về giao thông vận tải, du lịch, năng lượng, v.v.[15] 
Về các cơ chế có sự tham gia của đối tác ngoài khu vực, trong những năm gần đây, nhận thức được tình hình an ninh nguồn nước của khu vực sông Mekong có nguy cơ gây ra bất ổn, xung đột trong khu vực, các quốc gia ở bên ngoài đã thúc đẩy các cơ chế, khuôn khổ hợp tác với các quốc gia liên quan nhằm xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đồng thời, đẩy mạnh các kế hoạch nhằm nâng cao năng lực phát triển kinh tế từ nguồn tài nguyên sông Mekong. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung, Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong (tiếng Anh: Lower Mekong Initiative) được Washington đề xuất và khởi xướng vào năm 2009 với sự hợp tác giữa Mỹ với Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar.[16] Cơ chế này được lập ra nhằm mục tiêu trước mắt là hỗ trợ các nước trong khu vực ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên nước nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời, sáng kiến này có thể được coi như một biện pháp để Nhà Trắng kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á.[17] Ngoài sự tham gia của Mỹ thì còn có sự tham gia của các nước khác như cơ chế hợp tác Mekong - Nhật Bản, cơ chế Mekong - Ấn Độ, cơ chế Mekong - Hàn Quốc, v.v.[18] 
Nhìn chung, thông qua các cơ chế hợp tác giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực hệ thống sông Mekong, các nước ven sông ngày càng có điều kiện cải thiện cơ sở vật chất, kết nối giao thông, quản lý bền vững nguồn nước, chống biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, các cơ chế hiện hành ở sông Mekong tuy nhiều về số lượng, song lại chồng chéo nhau về chức năng, nhiệm vụ và chưa có cách hữu hiệu để phối hợp hoạt động. Tiêu biểu là cơ cấu tổ chức của Uỷ hội sông Mekong - cơ chế duy nhất hiện nay mang tính pháp lý và ràng buộc, lại không có sự tham gia đầy đủ của Trung Quốc và Myanmar - các quốc gia thượng nguồn.[19][20] Ngoài ra, có thể nhận định, sự quan tâm của các nước lớn đến tiểu vùng và đều có những cơ chế hợp tác riêng có thể tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh chiến lược tại tiểu vùng sông Mekong, gây bất ổn khu vực.
Những thách thức trên đòi hỏi sự hài hòa lợi ích giữa các quốc gia ở thượng nguồn với lợi ích của các nước hạ nguồn; đồng thời, sự thống nhất trong giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, v.v. thông qua các cơ chế hợp tác đa phương và song phương nhằm quản lý hệ thống sông Mekong.[21] Chính vì thế, vai trò của ngoại giao nguồn nước ở hệ thống sông Mekong hiện nay là không thể phủ nhận trong việc giảm thiểu nguy cơ xung đột và thúc đẩy các biện pháp phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] “Secretary-General, in Security Council, Stresses Promotion of Water-resource Management as Tool to Foster Cooperation, Prevent Conflict”, United Nations, ngày 22/11/2016. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://press.un.org/en/2016/sc12598.doc.htm 
[2] “Global Water Crisis: Why the World Urgently Needs Water-Wise Solutions”, Earth.Org, ngày 12/3/2024. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://earth.org/global-water-crisis-why-the-world-urgently-needs-water-wise-solutio ns/ 
[3] “The United Nations world water development report 2015: water for a sustainable world”, UN-Water, 2015. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000231823/PDF/231823eng.pdf.multi [4] [6] Dr. Susanne Schmeier, “What is water diplomacy and why should you care?”, Global Water Forum, ngày 31/8/2018. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://www.globalwaterforum.org/2018/08/31/what-is-water-diplomacy-and-why-sho uld-you-care/
[5] Jovan Kurbalija, “Water diplomacy”, DiploFoundation, ngày 15/4/2022. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://www.diplomacy.edu/topics/water-diplomacy/ 
[7] Trần Xuân Thủy, Lê Hồng Hiệp, “Báo động ‘Ngoại giao nguồn nước’ của TQ trên dòng Mekong”, Nghiên cứu Quốc tế, ngày 6/6/2016. Truy cập ngày 23/5/2024. https://nghiencuuquocte.org/2016/06/06/ngoai-giao-nguon-nuoc-tq-mekong/ [8] “Geography”, Mekong River Commission. Truy cập ngày 23/5/2024. https://www.mrcmekong.org/about/mekong-basin/geography/ 
[9] Mekong River Commission (MRC). “Mekong Basin.” Truy cập ngày 23/5/2024. https://www.mrcmekong.org/about/mekong-basin. 
[10] Thu Hang, Ngoc Tai, Hoang Nam, “6000 YEARS OF ALLIANCE OF THE LOWER MEKONG RIVER.” Mekong Heritage. Truy cập ngày 23/5/2024. https://mekoheritage.com/en/6000-years-of-alliance-of-the-lower-mekong-river/. [11] Brian Eyler, Alan Basist, Regan Kwan, Courtney Weatherby, Claude Williams, “Mekong Dam Monitor Annual Report: 2022-2023”, Stimson Center, ngày 15/12/2023. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://www.stimson.org/2023/mekong-dam-monitor-annual-report-2022-2023/ [12] Tô Minh Thu, Vũ Thị Thu Ngân, “An ninh nguồn nước: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại tiểu vùng Mê Công”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (120), 3/2020. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://drive.google.com/file/d/1dk4brCRKA9vQ3ZCBWA5Tq7LeCRIQj-81/view?us p=sharing 
[13][18] TS. Tô Minh Thu (Chủ biên), “Tiểu vùng sông Mê Kông: Hợp tác năng động vì thịnh vượng, an ninh và phát triển bền vững”, Nhà xuất bản Thế giới, 2022. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://drive.google.com/file/d/1UOb1E-I8XoeDkBfrAGvvGbfZGJlLKRPj/view?usp =sharing 
[14] “Các cơ chế hợp tác trên lưu vực sông Mê Công”, Ủy ban sông Mê Công tại Việt Nam. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://vnmc.gov.vn/?page_id=1850 
[15] TS. Lê Hải Bình, “Các cơ chế hợp tác ở khu vực Mê Công và sự tham gia của Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, ngày 13/6/2018. Truy cập ngày 23/5/2024. https://tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/51196/cac-co-che-hop-tac-o-khu -vuc-me-cong-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx 
[16] “Sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông (LMI)”, U.S. Agency for International Development. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://2017-2020.usaid.gov/vi/vietnam/lower-mekong-initiative-lmi# [17] Trần Ngọc Dũng, “Cạnh tranh ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Tiểu vùng sông Mekong trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI”, Viện Nghiên Cứu Đông Bắc Á, ngày 27/7/2023. Truy cập ngày 23/5/2024.
https://www.inas.gov.vn/1342-canh-tranh-anh-huong-cua-trung-quoc-va-my-o-tieu-vu ng-song-mekong-trong-hai-thap-nien-dau-the-ky-xxi.html 
[19] Thearith Leng, “Connectivity Initiatives in the Mekong Region: Too Many or Too Little?”, Konrad-Adenauer-Stiftung. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://www.kas.de/documents/288143/10822438/Panorama_2019_02_4c_v5d_Theari thLeng.pdf/9d7c10af-98fe-965a-76c7-aa760206a5a7?t=1606102327266 [20] Dien Tu, “MRC wants China and Myanmar joined”, Consulate General of the Socialist Republic of Vietnam in Houston. Truy cập ngày 23/5/2024. https://vnconsulate-houstontexas.mofa.gov.vn/en-us/About%20Vietnam/General%20I nformation/Economic/Pages/MRC-wants-China-and-Myanmar-joined.aspx?p=21 [21] Truong Minh Vu, Tram Nguyen, ““Adapting to Nature”: A Preliminary Assessment of Vietnam’s Mekong Water Diplomacy since 2017”, Yusof Ishak Institute, ngày 17/12/2021. Truy cập ngày 23/5/2024. 
https://www.iseas.edu.sg/articles-commentaries/iseas-perspective/2021-166-adapting-t o-nature-a-preliminary-assessment-of-vietnams-mekong-water-diplomacy-since-2017- by-truong-minh-vu-and-tram-nguyen/