Thế kỷ XXI đang chứng kiến sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, v.v. cùng với đó là những thách thức xuyên biên giới như y tế, biến đổi khí hậu hay an ninh mạng. Trong bối cảnh đó, hợp tác khoa học quốc tế không chỉ thúc đẩy tri thức mà còn trở thành kênh đối thoại quan trọng giữa các quốc gia. Từ đây, “ngoại giao khoa học - công nghệ” (KH-CN) dần nổi lên như một động lực phát triển của nhiều quốc gia. Trong chuyên mục Góc nhìn Galileo lần này, hãy cùng chúng mình tìm hiểu về khái niệm “ngoại giao khoa học - công nghệ” cũng như cách Việt Nam tận dụng lĩnh vực này để phát triển đất nước trong kỷ nguyên số nhé!
1. Khái niệm và nội hàm của ngoại giao khoa học - công nghệ
Ngoại giao khoa học, theo định nghĩa của The Royal Society, là việc sử dụng hợp tác khoa học giữa các quốc gia để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại và xây dựng các quan hệ đối tác quốc tế để xử lý các thách thức toàn cầu trên nền tảng tri thức và lòng tin.[1] Trên nền tảng đó, ngoại giao công nghệ được xem là một dạng phát triển của ngoại giao khoa học, khi mở rộng phạm vi từ hợp tác tri thức sang các vấn đề chính sách kỹ thuật số và công nghệ mới nổi, bao gồm triển khai các hoạt động đối thoại và đàm phán liên quan đến công nghệ ở cấp độ toàn cầu, với sự tham gia của nhiều chủ thể như nhà nước, khu vực tư nhân, xã hội dân sự và các tổ chức khác.[2][3]
Như vậy, ngoại giao KH-CN có thể được hiểu là việc lồng ghép khoa học và công nghệ vào hoạt động đối ngoại, vừa cung cấp cơ sở tri thức cho hoạt động đàm phán quốc tế, vừa là công cụ thúc đẩy lợi ích quốc gia và tham gia định hình các chuẩn mực toàn cầu.[4] Nội hàm của ngoại giao KH-CN được cấu thành bởi ba trụ cột chính: Ngoại giao phục vụ KH-CN, KH-CN phục vụ ngoại giao, và KH-CN nhằm xây dựng quan hệ ngoại giao, trong đó vai trò của công nghệ được tích hợp song hành cùng khoa học trong từng trụ cột.
Thứ nhất, ngoại giao phục vụ KH-CN đề cập đến vai trò của ngoại giao trong việc phục vụ trực tiếp cho mục tiêu hợp tác và phát triển KH-CN quốc gia.[5] Thông qua các hoạt động ngoại giao như đối thoại, đàm phán song phương lẫn đa phương, các hiệp định về hợp tác và chuyển giao KH-CN được ký kết, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của KH-CN trong nước. Thứ hai, KH-CN phục vụ ngoại giao đề cập đến việc huy động tri thức khoa học, bằng chứng thực nghiệm và chuyên gia, tập đoàn về công nghệ nhằm cung cấp nền tảng cho hoạch định chính sách đối ngoại.[6] Nhờ đó, các nhà hoạch định có thể nhận diện chính xác vấn đề, đánh giá rủi ro và lựa chọn phương án hành động tối ưu. Điển hình là các báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã đóng vai trò tham vấn trực tiếp cho các đàm phán khí hậu toàn cầu tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP)[7]. Thứ ba, KH-CN nhằm xây dựng quan hệ ngoại giao, nhấn mạnh việc sử dụng hợp tác khoa học như một công cụ để cải thiện hoặc duy trì quan hệ quốc tế.[8] Sự hợp tác KH-CN xuyên biên giới sẽ xây dựng được lòng tin và hình thành kênh đối thoại giữa các quốc gia, từ đó tạo ra diễn đàn để các bên duy trì tương tác, góp phần giảm thiểu đối đầu và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
2. Việt Nam trong xu hướng ngoại giao khoa học - công nghệ
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh toàn cầu về trí tuệ nhân tạo, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động về ngoại giao KH-CN đến năm 2030, xác định ngoại giao KH-CN là mũi nhọn tiên phong và là trụ cột ưu tiên của hoạt động đối ngoại.[9] Trên cơ sở nhận định của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Đại hội XIV của Đảng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, gắn chặt với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.[10][11] Từ đó, vị trí và vai trò của ngoại giao KH-CN được nâng tầm rõ rệt.
Trước hết, ngoại giao KH-CN kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi để Việt Nam bứt phá công nghệ. Chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2025, gần 40 thỏa thuận hợp tác công nghệ đã được ký, mở ra hành lang pháp lý, nguồn lực mới và không gian phát triển mới. Đáng chú ý, dưới sự đôn đốc sát sao của Chính phủ, các thỏa thuận này được toàn bộ hệ thống từ Trung ương đến địa phương triển khai quyết liệt và đảm bảo tính thực chất theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “đã nói là làm, đã cam kết là thực hiện”.[12]
Thứ hai, ngoại giao KH-CN đóng vai trò then chốt trong việc thu hút trí tuệ và nguồn lực chất lượng cao cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Thông qua các kênh đối ngoại như cam kết chuyển đổi năng lượng tại COP26, COP28 hay tiếp nhận quyền đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh P4G 2025, Việt Nam gắn kết mạng lưới tri thức Việt toàn cầu và chuyên gia quốc tế, đồng thời huy động tài chính xanh và công nghệ tiên tiến cho các dự án trọng điểm.[13]
Thứ ba, ngoại giao KH-CN khẳng định vị thế và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế khi đã góp phần định hình “luật chơi” trong lĩnh vực KH-CN và chuyển đổi số. Thông qua các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hay Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam đã dần nâng cao vị thế từ vai trò tiếp nhận đến chủ động đóng góp sáng kiến, tham gia xây dựng các chuẩn mực quốc tế cho các vấn đề quản trị toàn cầu.[14]
Đánh giá cơ hội và thách thức trong tình hình hiện nay, có thể thấy Việt Nam đang đứng trước thời cơ thuận lợi để thúc đẩy ngoại giao KH-CN theo hướng thực chất và có chiều sâu. Trước hết, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá và phát triển KH-CN thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực chiến lược của phát triển quốc gia.[15] Nhờ đó, ngoại giao KH-CN được triển khai nhất quán và đáng tin cậy trong mắt các đối tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hợp tác dài hạn trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ và đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D). Bên cạnh đó, với vị trí nằm tại giao điểm của các chuỗi cung ứng công nghệ và tính ổn định chính trị trong nước, Việt Nam đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược đa dạng hóa địa điểm sản xuất và R&D của các tập đoàn công nghệ hàng đầu như Nvidia, Samsung hay Meta nhằm giảm thiểu rủi ro địa chính trị.[16][17] Tuy nhiên, lợi thế này mang tính điều kiện hơn là tất định, bởi khả năng tận dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và hệ sinh thái đổi mới - điều mà Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế.[18] Một cửa sổ cơ hội khác là quản trị toàn cầu về AI vẫn đang trong giai đoạn định hình.[19] Chính khoảng trống về thể chế có thể tạo điều kiện để các quốc gia có thể tham gia với chi phí gia nhập tương đối thấp. Điều này cho phép Việt Nam có được lợi thế chủ động hơn, đồng thời nâng cao uy tín như một chủ thể có trách nhiệm trong quản trị công nghệ toàn cầu.
Song hành với những cơ hội là thách thức, trước hết là áp lực “chọn phe” trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung. Các cơ chế kiểm soát xuất khẩu công nghệ của Mỹ cùng sự mở rộng không ngừng của hệ sinh thái công nghệ Trung Quốc vào Đông Nam Á đang dần thu hẹp không gian trung lập mà Việt Nam theo đuổi trong cân bằng quan hệ với các nước lớn.[20] Trong lĩnh vực KH-CN, khi các tiêu chuẩn kỹ thuật và chuỗi cung ứng ngày càng có xu hướng phân tách, phân mảnh, thì sự linh hoạt trong quan hệ đối ngoại cũng bị hạn chế ở mức độ nhất định, đòi hỏi Việt Nam phải tính toán thận trọng nhằm duy trì cục diện ổn định.[21] Thứ hai là, nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ trong các lĩnh vực chiến lược. Ngân sách cho R&D của Việt Nam dưới 0,5% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu vào khoảng 2%. Trong bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Việt Nam tuy duy trì vị trí tương đối cao (44/139 nền kinh tế năm 2025), nhưng lại có sự chênh lệch đáng kể khi xếp hạng đầu ra cao hơn đầu vào về đổi mới, cho thấy Việt Nam có khả năng tận dụng và chuyển hóa công nghệ tốt, nhưng nền tảng về nghiên cứu và phát triển vẫn chưa tương xứng.[22] Hệ quả tiềm ẩn là Việt Nam sẽ khó đứng vào vị trí đối tác bình đẳng trong các thỏa thuận hợp tác KH-CN quốc tế và dễ bị tổn thương trước các biện pháp kiểm soát công nghệ từ bên ngoài.
Trước những biến động khó lường trong kỷ nguyên số, ngoại giao KH-CN đã được nhiều quốc gia nâng tầm trở thành một động lực quan trọng trong đối ngoại nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và đảm bảo sự thịnh vượng của đất nước. Đối với Việt Nam, định hướng đến năm 2030 theo Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ ngoại giao KH-CN với các mục tiêu an ninh, tự chủ chiến lược và phát triển dài hạn. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần xác định lĩnh vực công nghệ ưu tiên trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế, chủ động xây dựng, thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược về KH-CN đồng thời và tham gia có chọn lọc vào các thể chế quản trị công nghệ toàn toàn cầu, từ đó nâng cao năng lực thích ứng và phát huy hiệu quả vai trò của ngoại giao KH-CN trong thực hiện mục tiêu phát triển của quốc gia.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] The Royal Society & AAAS, “New Frontiers in Science Diplomacy”, The Royal Society, năm 2010. Truy cập ngày 21/03/2026.
https://royalsociety.org/-/media/policy/publications/2010/4294969468.pdf.
[2] OECD, “OECD Science, Technology and Innovation Outlook 2025”, OECD Publishing, năm 2025. Truy cập ngày 21/03/2026.
https://www.oecd.org/en/publications/oecd-science-technology-and-innovation-outloo k-2025_5fe57b90-en/full-report/reconfiguring-scientific-co-operation-in-a-changing-g eopolitical-environment_73f32116.html.
[3] Asia-Europe Foundation (ASEF), “Science & Technology Diplomacy Comparative Report”, năm 2025. Truy cập ngày 21/03/2026.
https://asef.org/wp-content/uploads/2025/03/Scitech_Comparative-Report.pdf.
[4] TS. Vũ Lê Thái Hoàng, TS. Ngô Di Lân, “Ngoại giao khoa học công nghệ trong kỷ nguyên mới”, Báo Thế giới & Việt Nam, ngày 27/08/2025. Truy cập ngày 22/03/2026.
https://baoquocte.vn/ngoai-giao-khoa-hoc-cong-nghe-trong-ky-nguyen-moi-325746.ht ml#google_vignet.
[5][6] The Royal Society, “New frontiers in science diplomacy”, The Royal Society, năm 2025. Truy cập ngày 20/03/2026.
https://royalsociety.org/-/media/policy/publications/2010/4294969468.pdf. [7] IPCC, “The Sixth Assessment Report (AR6)”, IPCC. Truy cập ngày 25/03/2026. https://www.ipcc.ch/assessment-report/ar6/
[8] UNCTAD, “Science and Technology Diplomacy: Concepts and Elements of a Work Programme”, Liên Hợp Quốc, năm 2003. Truy cập ngày 22/03/2026. https://unctad.org/system/files/official-document/itetebmisc5_en.pdf.
[9][12][13][14] Nguyễn Minh Hằng, “Thứ trưởng Nguyễn Minh Hằng - Ngoại giao công nghệ”, Báo Nhân Dân, năm 2025. Truy cập ngày 22/03/2026. https://nhandan.vn/special/ThutruongNguyenMinhHang-ngoaigiaocongnghe/index.ht ml.
[10] Chính phủ Việt Nam, “Toàn văn Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Cổng thông tin Chính phủ, năm 2024. Truy cập ngày 23/03/2026.
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-kho a-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642. htm.
[11] Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, “Đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ tư duy đến hành động theo định hướng Đại hội Đảng XIV”, năm 2025. Truy cập ngày 22/03/2026.
https://vjst.vn/dot-pha-ve-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-tu tu-duy-den-hanh-dong-theo-dinh-huong-dai-hoi-dang-xiv-82579.htm.
[15] Nguyễn Minh Hằng, “Thúc đẩy mạnh mẽ ngoại giao khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên mới”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, năm 2025. Truy cập ngày 22/03/2026.
https://vjol.info.vn/index.php/khcn/article/view/107037.
[16] Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ, “Việt Nam - Địa điểm chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu: Cơ hội và thách thức”, Tạp chí Công thương, năm 2023. Truy cập ngày 24/03/2026.
https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-cong-nghiep/viet-nam-dia-diem-chien-luoc-trong -chuoi-cung-ung-toan-cau-co-hoi-va-thach-thuc.html.
[17] Sơn Trần, “Đằng sau mạng lưới các thương vụ phức tạp và tham vọng thật sự của OpenAI”, VNEconomy, năm 2025. Truy cập ngày 25/03/2026.
https://vneconomy.vn/techconnect/dang-sau-mang-luoi-cac-thuong-vu-phuc-tap-va-th am-vong-that-su-cua-openai.htm.
[18] Nguyễn Thị Hồng, “Phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh lực lượng sản xuất mới”, Tạp chí Công thương, năm 2026. Truy cập ngày 24/03/2026.
https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-kinh-te-doi-ngoai-cua-viet-nam-trong-boi-canh -luc-luong-san-xuat-moi-387902.htm.
[19] Đỗ Thị Thủy và Phan Hồ Thế Nam, “Phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh lực lượng sản xuất mới”, Tạp chí Công thương, năm 2026. Truy cập ngày 23/03/2026.
https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-kinh-te-doi-ngoai-cua-viet-nam-trong-boi-canh -luc-luong-san-xuat-moi-387902.htm.
[20] Nguyễn Việt Lâm, “Cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung Quốc và một vài đề xuất tham chiếu cho Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 25/03/2026. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-ho i-xiii-cua-dang/-/2018/815933/view_content#.
[21] Vijay Sangam, “Supply Chain Decoupling: Navigating a New Era of Resilience and Disruption Mitigation”, Supply Chain World, ngày 21/03/2025. Truy cập ngày 25/03/2026.
https://vijaysangamworld.wordpress.com/2025/03/21/supply-chain-decoupling-naviga ting-a-new-era-of-resilience-and-disruption-mitigation/.
[22] Thu Giang, “Việt Nam duy trì xếp hạng 44 về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025”, Báo Chính phủ, năm 2025. Truy cập ngày 21/03/2026.
https://baochinhphu.vn/viet-nam-duy-tri-xep-hang-44-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toa n-cau-2025-102250916195648812.htm.
