“Ôi nỗi mừng dâng mọi nỗi mừng
Trào dâng nước mắt cứ rưng rưng
Cả Việt Nam tiến công, cả miền Nam nổi dậy
Dồn dập tim ta, trăm trận thắng tưng bừng”
(Tố Hữu, “Toàn thắng về ta”)
Sau 21 năm trường kỳ kháng chiến (1954-1975), ngày 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, đánh dấu thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trước một nước đế quốc sừng sỏ, đứng đầu hệ thống Tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ là Mỹ. Thắng lợi này là kết quả của sự phối hợp nhuần nhuyễn và hiệu quả trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Trong đó, Nghị quyết bộ Chính trị tháng Tư 1960 đã ghi rõ: “ Ngoại giao đã trở thành một mặt trận có ý nghĩa chiến lược”. Mặt trận ngoại giao được triển khai trên nhiều hình thức, từ việc tuyên truyền, vận động báo chí, vận động chính trị, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cho đến đối thoại thực chất trên bàn đàm phán.
Trước một kẻ thù giàu mạnh, đứng đầu hệ thống Tư bản chủ nghĩa; trong một không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế giới, ngoại giao Việt Nam đã đẩy mạnh việc thiết lập một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam và cô lập Mỹ trên lĩnh vực chính trị và tinh thần. Trong công tác tuyên truyền, vận động đối ngoại, Đảng ta đã đề ra những kế hoạch triển khai hiệu quả các hình thức đấu tranh, nêu rõ chính nghĩa dân tộc, vạch rõ bản chất hiếu chiến, chiến tranh phi nghĩa, xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Ngày 18/2/1962 chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố về việc Mỹ tăng cường can thiệp và xâm lược miền Nam Việt Nam. Các nước Liên Xô, Trung Quốc, Ủy ban đoàn kết Á-Phi, Hội đồng hòa bình thế giới, Hội luật gia dân chủ quốc tế… đều lên tiếng phản đối Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam [1]. Ngoại giao đã phát huy thế mạnh chính nghĩa dân tộc trong việc tranh thủ đồng minh, hình thành mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.
Không chỉ tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân ưa chuộng hòa bình trên Thế giới, Việt Nam còn tạo được một làn sóng phản đối chiến tranh mạnh mẽ ngay trên đất Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phong trào nhân dân Mỹ có vai trò vô cùng quan trọng. Người coi mặt trận số một chống Mỹ là Việt Nam, mặt trận số hai ở ngay nước Mỹ và nói “Bị giáp công trên hai mặt trận, đế quốc Mỹ nhất định thua.” [2] Các cuộc tự thiêu, các cuộc biểu tình của sinh viên đại học, các đợt đấu tranh lớn lôi cuốn hàng nghìn người, làm tê liệt hàng trăm thành phố, trường học Mỹ, đến mức báo chí Mỹ cũng phải thừa nhận: “Đây là một phong trào chống chiến tranh không chưa từng có ở Mỹ cũng như chưa từng có trong lịch sử nhân loại.” [3]
Ngoại giao cũng đã làm rất tốt trong việc tranh thủ sự ủng hộ của phe Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Mặc dù bối cảnh lúc bấy giờ là Trung Quốc và Liên Xô đang ở trong tình thế đối kháng gay gắt, nhưng với sách lược mềm dẻo, linh hoạt và thiện chí, ta đã không làm mất lòng Liên Xô hay Trung Quốc. Kết quả là, Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ của hai người anh lớn của phe xã hội chủ nghĩa, làm thất bại âm mưu của Mỹ chia rẽ Việt Nam và các đồng minh. .
Bên cạnh đó, mặt trận ngoại giao đã đưa đoàn kết ba nước Đông Dương lên tầm cao mới. Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp nhịp nhàng và ăn ý với lực lượng kháng chiến các nước bạn, hình thành thế liên hoàn vững mạnh. Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương tháng 4/1970 trở thành “hiến chương chung” củng cố tình đoàn kết chiến đấu của ba nước cho đến thắng lợi. [4]
Đấu tranh và thi hành hiệp định Paris - cuộc đấu tranh ngoại giao căng thẳng ngay trong sào huyệt địch.
Sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết thành công vào ngày 27/1/1973, theo Khoản d, Điều 16, Chương VI, bốn bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa cử đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Theo Điều 17, hai bên miền Nam Việt Nam cử đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự hai bên. Các thành viên gồm cán bộ, chiến sĩ được chọn từ nhiều đơn vị, nhiều chiến trường để làm một nhiệm vụ hoàn toàn mới là đấu tranh ngoại giao quân sự, góp phần hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.[5]
Đây được coi Cuộc đấu trí căng thẳng diễn ra trong 823 ngày đêm tại Trại Davis. Sáng ngày 28/1/11-1973, Mỹ đưa trực thăng tới sân bay Thiện Ngôn (ở phía Bắc Tây Ninh, do ta kiểm soát) đón đoàn của ta nhưng đúng giờ hẹn lại cho hai chiếc máy bay tới trút bom xuống điểm đón đoàn. Ta kịch liệt lên án hành động tráo trở của địch, buộc chúng phải cam kết đảm bảo an toàn cho phái đoàn ta vào Trại Davis. Nhưng sau đó, chúng lại nhiều lần vi phạm: Phục kích đánh đoàn ta ở Lâm Đồng; gây sự với đoàn ta ở Huế, Buôn Ma Thuột…
Mặc dù Mỹ âm mưu dùng mọi cách để phá hoại Hiệp định, nhưng với lòng quả cảm, và tinh thần lạc quan, bất khuất, các chiến sĩ cách mạng Việt Nam tranh thủ những chiến thắng trên chiến trường để gây sức ép đối với Mỹ khi đàm phán ngoại giao. Các chiến sĩ tham gia đàm phán trực tiếp đã thể hiện được bản lĩnh, sự gan dạ và chiến lược ngoại giao khôn khéo, trong đó lấy tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là kim chỉ nam trong hoạt động đàm phán. Hai phái đoàn của ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, sự dũng cảm, mưu trí thông qua việc vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và những hành động phá hoại Hiệp định của Mỹ trước dư luận trong nước và quốc tế.
11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, báo hiệu giờ toàn thắng của dân tộc Việt Nam. Giây phút này đã đi vào lịch sử, đánh dấu quá trình thi hành Hiệp định Paris thành công sau hơn hai năm đấu tranh ngoại giao với Mỹ, Ngụy.
Như vậy, ngoại giao đã không những tạo thời cơ để xây dựng lực lượng mà còn phát huy một cách tối đa thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường. Bên cạnh đó, trên chiến trường, ngoại giao cũng góp phần phát huy, khuếch trương những chiến thắng của ta và phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị để tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đi đến thắng lợi. Chiến thắng lịch sử 30/4/1975 sẽ mãi là mốc son chói lọi, khẳng định vị thế quan trọng của ngành ngoại giao và là bài học quan trọng cho thế hệ những nhà ngoại giao trẻ hôm nay và mai sau.
Tài liệu tham khảo:
[1] PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, “Mặt trận ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Học viện Ngoại giao.
[2] Mặt trận số 2 chống đế quốc Mỹ, Báo Nhân dân số 4517 ngày 19/8/1966, Bác Hồ viết với bút danh Chiến sĩ”.
[3] Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.347.
[4] PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, “Mặt trận ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Học viện Ngoại giao.
[5] Quảng Tân, “Trại Davis, chuyện kể của người trong cuộc”, Báo Hà Nội mới, link truy cập: .https://hanoimoi.com.vn/.../trai-davis-chuyen-ke-cua…


