[GS] NGOẠI GIAO ĐÔ LA
Theo thống kê của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố vào năm 2021, từ năm 1999 đến 2019, đồng USD chiếm 90% giao dịch thương mại quốc tế ở châu Mỹ, 74% ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và 79% trên toàn cầu.[1] Không chỉ vậy, đây cũng là loại tiền tệ chiếm 60% trong dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trên thế giới.[2] Trong hơn một thế kỷ qua, Mỹ đã triển khai chính sách tận dụng sức mạnh và sự phổ biến của đồng USD nhằm duy trì vị thế số một về kinh tế trên toàn cầu, đồng thời, gây ảnh hưởng tới hệ thống thương mại và quan hệ kinh tế quốc tế. Chính sách đó thường được biết đến dưới cái tên Ngoại giao đô la (Dollar Diplomacy). Để mở đầu chuyên mục “Từ điển Galileo”, hãy cùng Galileo Society khám phá những thông tin nổi bật về Ngoại giao đô la (Dollar Diplomacy) nhé!
Ngoại giao đô la là một chính sách đối ngoại của Mỹ xoay quanh việc tận dụng sức ảnh hưởng của tiền tệ để tác động tới các quốc gia khác. Chính sách Ngoại giao đô la được hiểu là sự tham gia của các phương tiện tài chính vào hoạt động đối ngoại của Mỹ.[3] Theo đó, các hình thức kinh tế như viện trợ kinh tế, cho vay, đầu tư, v.v... được coi là công cụ để đảm bảo lợi ích của Mỹ về cả chính trị lẫn kinh tế trên toàn cầu.
Ngoại giao đô la bắt đầu xuất hiện vào vào đầu thế kỷ XX, khi các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ đối diện với những khó khăn về kinh tế - xã hội do lâm vào các khoản nợ với các nước châu Âu. Tình thế đó đặt ra nguy cơ về sự can thiệp của các nước đế quốc châu Âu vào khu vực Tây Bán cầu, ảnh hưởng tới vị thế của Mỹ ở các khu vực Mỹ Latinh.[4] Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ Howard Taft (1857-1930) và Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Philander C. Knox (1853-1921) đã đề ra chính sách Ngoại giao đô la (Dollar Diplomacy), được công bố lần đầu trong Thông điệp Liên bang tại Quốc hội Mỹ vào tháng 12/1912.
Với quan điểm “thay súng đạn bằng đô la”, chính quyền Tổng thống Howard Taft đã tận dụng sức mạnh của nền kinh tế Mỹ nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của Học thuyết Monroe - “châu Mỹ là của người châu Mỹ” và Chính sách Mở cửa (Open Door Policy) ở Trung Quốc.[5] Chính sách Ngoại giao Dollar hướng tới ổn định tình hình kinh tế - xã hội của các nước Mỹ Latinh và Đông Á, cũng như duy trì và mở rộng quyền lợi thương mại của Mỹ ở các khu vực nói trên.[6]
Tại Trung Mỹ, chính quyền Tổng thống Howard Taft đã khuyến khích các ngân hàng Mỹ thanh toán các khoản nợ nước ngoài của các nước; đẩy mạnh cho vay, đầu tư vốn; buôn bán và đầu tư xây dựng các xí nghiệp khai thác, luyện kim, công nghiệp nhẹ, các dự án công, hệ thống đường sắt.[7] Chính sách trên được triển khai nhằm khôi phục nền tài chính và bảo vệ thương mại các nước như Mexico, Nicaragua, Honduras, v.v… Đồng thời, Washington muốn loại dần ảnh hưởng của các nước châu Âu và đảm bảo lợi ích kinh tế của Mỹ trong khu vực Mỹ Latinh.[8]
Tại châu Á, chính quyền Tổng thống Howard Taft đã thực hiện đẩy mạnh mở cửa thị trường, tiến hành các hoạt động buôn bán, giao thương với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Mỹ cũng đầu tư, cho vay vốn, hỗ trợ tài chính giúp Trung Quốc có thể sở hữu được hệ thống đường sắt ở khu vực Mãn Châu - vốn đang được kiểm soát bởi Nga và Nhật Bản.[9]
Chính sách Ngoại giao đô la của Tổng thống Howard Taft đã đem lại lợi ích cho các công ty, tập đoàn của Mỹ, tạo điều kiện để Mỹ thiết lập ảnh hưởng kinh tế, thương mại ở khu vực Mỹ Latinh trong các giai đoạn sau đó. Cụ thể, năm 1929, tổng số vốn đầu tư của Mỹ vào khu vực Trung và Nam Mỹ đã đạt 5.587 triệu USD, tăng 450% so với năm 1913.[10] Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Tổng thống thứ 27 của Mỹ được cho là mang nhiều hạn chế. Trên thực tế, Ngoại giao đô la đã thất bại ở Trung Quốc khi không thể giúp Washington sở hữu tuyến đường sắt Mãn Châu, đồng thời tạo căng thẳng trong quan hệ giữa Mỹ với Nhật Bản. Trong khi đó, ở khu vực Mỹ Latinh, sự can thiệp về kinh tế của Mỹ không cải thiện được nền kinh tế, gây ra tình trạng bất ổn về chính trị - xã hội ở các quốc gia này, dẫn tới các phong trào đấu tranh chống sự can thiệp của Mỹ trong các giai đoạn sau.[11]
Mặc dù không đạt được những mục tiêu đề ra, song chính sách Ngoại giao đô la của Tổng thống Mỹ Howard Taft là bước mở đầu cho tiền lệ sử dụng sức mạnh tài chính - tiền tệ như một công cụ chính sách đối ngoại. Các đời tổng thống Mỹ sau đó tiếp tục coi đồng USD như là một phương tiện nhằm bảo vệ các lợi ích kinh tế và chính trị của Mỹ trên toàn cầu. Hệ thống Bretton Woods ra đời năm 1944 đã đưa đồng USD trở thành đồng tiền được dự trữ nhiều nhất trên thế giới, nhờ đó, tạo ra sức mạnh về quyền lực chính trị và kinh tế của Mỹ trên toàn cầu.[12] Mặc dù hệ thống bản vị vàng của Bretton Woods đã sụp đổ vào năm 1971, song, cho tới nay, đồng USD vẫn là đồng tiền dự trữ của cả thế giới.[13] Trong nhiều thập kỷ qua, vị thế số một của đồng USD đã và đang mang lại cho Washington quyền lực chính trị to lớn, khả năng kiểm soát hoặc tác động đến quá trình định hình các quy tắc và chuẩn mực trong hệ thống tài chính quốc tế. [14]
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tư duy ngoại giao đô la của Mỹ đang gặp phải những thách thức lớn. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới lo ngại rằng Mỹ có thể sử dụng sức ảnh hưởng của đồng USD để đóng băng tài sản của họ nhằm đạt được lợi thế trong các tranh chấp ngoại giao hoặc quân sự.[15] Chính vì thế mà một số quốc gia đang có những động thái “phi đô la hóa” trong các hoạt động tài chính và thương mại nhằm thúc đẩy hệ thống tiền tệ đa cực, tiêu biểu là Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới (BRICS).[16] Hiện nay, với xu thế “phi đô la hóa” ngày càng gia tăng, điều này sẽ dẫn tới sự suy giảm vị thế toàn cầu về chính trị và kinh tế của Mỹ, đặt ra những thử thách đối với chính phủ Mỹ trong việc duy trì vị thế số một của đồng USD trong tương lai.
Thông qua bài viết trên, Galileo Society hy vọng đã đem đến những thông tin thú vị về Ngoại giao đô la (Dollar Diplomacy). Hãy theo dõi chúng mình để cập nhật nhanh chóng những sự kiện và thông tin mới nhất từ Galileo Society nhé!