548279232_1403619388217517_3272180368359571319_n (1)

Trong bối cảnh thế giới biến động, công nghệ đang dần trở thành yếu tố then chốt định hình sức mạnh của các quốc gia, mang lại lợi thế về kinh tế, an ninh và khả năng ứng phó với những thách thức toàn cầu. Dần dần, công nghệ được sử dụng như một quân cờ chiến lược nhằm khẳng định vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế. Từ đó, khái niệm “chủ nghĩa dân tộc công nghệ” (tiếng Anh: Techno-nationalism) ra đời và được phát triển không ngừng, đặc biệt trở nên nổi bật trong kỷ nguyên số hiện nay.[1][2] Trong Chuyên mục Từ điển Galileo lần này, hãy cùng chúng mình tìm hiểu kỹ hơn về thuật ngữ “Chủ nghĩa dân tộc công nghệ” nhé! 

1. Khái niệm 

Xuất phát từ cuộc chạy đua công nghệ giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh lạnh, các nhà nghiên cứu đã phát triển các cách tiếp cận liên kết công nghệ (techno) với chủ nghĩa dân tộc (nationalism), từ đó hình thành nên khái niệm “Chủ nghĩa dân tộc công nghệ” (Techno-nationalism).[3] Đến những năm 1980, thuật ngữ này được nhà kinh tế Robert Reich lần đầu đề cập như một chiến lược tự chủ công nghệ và công nghiệp của quốc gia.[4][5] Richard J.Samuels vào năm 1994 đã có chung quan niệm này khi định nghĩa chủ nghĩa dân tộc công nghệ là “cuộc đấu tranh nhằm đạt được độc lập và tự chủ thông qua quá trình nội địa hóa công nghệ”.[6] Kể từ đó, khái niệm này dần được dùng để chỉ các chính sách phát triển công nghệ tự chủ thông qua quá trình nội địa hóa công nghệ nhằm củng cố an ninh quốc gia và tăng trưởng kinh tế.[7][8] 

Bước vào thế kỷ XXI, chủ nghĩa dân tộc công nghệ đã phát triển thành một xu hướng địa chính trị mới, với công nghệ trở thành tâm điểm trong chiến lược phát triển và cạnh tranh giữa các quốc gia.[9] Paul Evans (2020) cho rằng, thế giới đã bước vào thời đại của chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Các quốc gia đang hướng tới thế độc tôn về công nghệ nhằm nâng cao quyền lực kinh tế và ảnh hưởng chính trị.[10] Yadong Luo (2022) nhận định rằng, chủ nghĩa dân tộc công nghệ là một dạng đặc biệt của chủ nghĩa dân tộc. Hai khái niệm này đều có chung mối quan tâm tối thượng là lợi ích quốc gia, song chủ nghĩa dân tộc công nghệ nhấn mạnh vào khả năng đổi mới và thống lĩnh công nghệ (thay vì bản sắc quốc gia - dân tộc truyền thống) để bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.[11] 

Từ các nhận định trên có thể rút ra khái niệm chung nhất của Chủ nghĩa dân tộc công nghệ đó là: (i) Là một dạng đặc thù của chủ nghĩa dân tộc; (ii) được ra đời nhằm tăng cường khả năng phát triển của công nghệ trong nước, giảm phụ thuộc vào nước ngoài; (iii) sử dụng và phát triển công nghệ như công cụ then chốt để nâng cao an ninh quốc gia, quyền lực kinh tế và ảnh hưởng địa chính trị của đất nước. 

2. Những đặc điểm chính của chủ nghĩa dân tộc công nghệ 

Thứ nhất, tiến bộ công nghệ được phát triển để thúc đẩy lợi ích quốc gia.[12] Việc kiểm soát các công nghệ nền tảng như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, viễn thông và lượng tử không chỉ tạo điều kiện cho quốc gia thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ưu thế quốc phòng mà còn gia tăng ảnh hưởng địa chính trị. Theo đó, quốc gia nắm ưu thế công nghệ có thể sử dụng các công cụ như kiểm soát xuất khẩu hay hạn chế đầu tư để gia tăng ảnh hưởng, trong khi các nước khác buộc phải thúc đẩy tự chủ công nghệ nhằm duy trì thế cân bằng.[13][14] Một minh chứng điển hình là Đạo luật CHIPS and Science Act (2022) của Mỹ. Đạo luật này đã phân bổ khoảng 280 tỷ USD cho đổi mới sáng tạo, trong đó 52,7 tỷ USD dành riêng cho sản xuất bán dẫn. Sau hơn hai năm, chính sách đã kích thích hơn 395 tỷ USD đầu tư tư nhân vào lĩnh vực bán dẫn và điện tử, tạo ra hơn 115.000 việc làm cho xây dựng và sản xuất trực tiếp, đồng thời giúp Mỹ giảm phụ thuộc vào châu Á trong sản xuất chip tiên tiến.[15] 

Thứ hai, nhà nước bảo hộ và can thiệp trực tiếp tới lĩnh vực công nghệ. Nhà nước không chỉ giữ vai trò điều tiết thị trường mà còn chủ động trợ cấp, áp dụng ưu đãi thuế, kiểm soát xuất khẩu và rà soát đầu tư nước ngoài. Sự bảo hộ của nhà nước giúp bù đắp hạn chế của cơ chế thị trường với nhu cầu vốn lớn, chu kỳ hoàn vốn dài và rủi ro chuỗi cung ứng trong công nghiệp công nghệ cao.[16][17] Chẳng hạn, Trung Quốc với chính sách Internet công nghiệp (tiếng Anh: Industrial Internet - IIoT) đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp hỗ trợ tài chính và ưu đãi để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực phần mềm, điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT) và phân tích dữ liệu lớn. Song song, các doanh nghiệp trụ cột khu vực còn nhận được nhiều đặc quyền trong đấu thầu, tiếp cận khách hàng công và ưu đãi về thuế, đất đai.[18] 

Thứ ba, mục tiêu dài hạn của chủ nghĩa dân tộc công nghệ là đạt được tự chủ công nghệ và giảm phụ thuộc vào các quốc gia khác. Chủ nghĩa này hướng đến việc xây dựng năng lực công nghệ nội sinh nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và hạn chế nguy cơ bị gián đoạn chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc quá mức vào nguồn cung bên ngoài.[19] Một công cụ thường được áp dụng là kiểm soát nhập khẩu công nghệ chiến lược, qua đó buộc doanh nghiệp nội địa tìm kiếm giải pháp thay thế và dần củng cố khả năng tự lực, giảm thiểu tác động từ các cú sốc bên ngoài.[20] Ví dụ điển hình là sáng kiến Made in China 2025 của Trung Quốc, nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa một số linh kiện cơ bản trong chuỗi cung ứng công nghệ lên 70%, qua đó giảm sự lệ thuộc vào nguồn cung từ Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu.[21] Ở chiều ngược lại, từ năm 2022, Mỹ đã áp dụng chính sách kiểm soát xuất khẩu đối với Trung Quốc, hạn chế xuất khẩu thiết bị sản xuất bán dẫn và công nghệ AI, đồng thời cấm công dân Mỹ làm việc tại các cơ sở liên quan nhằm kiềm chế năng lực phát triển chip tiên tiến của Trung Quốc.[22] 

3. Thực trạng chủ nghĩa dân tộc công nghệ trên thế giới 

Chủ nghĩa dân tộc công nghệ đã tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới và phát triển khoa học công nghệ trong nước, qua đó giảm thiểu sự phụ thuộc vào các đối tác bên ngoài.[23] Các nước thúc đẩy tự chủ công nghệ thông qua nhiều sáng kiến, chiến lược giúp tăng cường năng lực toàn diện, đồng thời hỗ trợ tài chính cho các công ty nội địa trong các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, quốc phòng, cơ sở hạ tầng số và di động với mục tiêu phát triển các sản phẩm nội địa thay thế cho hàng hóa nhập khẩu.[24][25] Việc nội địa hóa các ngành công nghệ này cho phép các quốc gia không những củng cố chủ quyền công nghệ mà còn giảm thiểu tác động của thế “tam nan” (trilemma) đang leo thang giữa Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc.[26][27] 

Mặt khác, chủ nghĩa dân tộc công nghệ cũng tạo ra sự phân mảnh của chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu trước đây mục tiêu chính của chuỗi cung ứng toàn cầu là tối ưu hóa chi phí, thì nay các nước tái thiết kế chuỗi cung ứng để đảm bảo tính dự phòng và khả năng chống chịu, thông qua dự trữ hàng tồn, đa dạng hóa nhà cung cấp và hạn chế dòng chảy dữ liệu, nhân lực.[28] Xu hướng này dẫn đến tình trạng tách rời (decoupling) hoặc giảm thiểu rủi ro (de-risking) giữa các khối công nghệ, điển hình là giữa Mỹ - phương Tây và Trung Quốc, kéo theo sự suy giảm hiệu quả kinh tế quốc tế và đẩy nhanh sự tái cấu trúc trong hệ thống kinh tế quốc tế.[29][30][31] Đồng thời, chủ nghĩa dân tộc công nghệ thường gắn liền với các chính sách bảo hộ, kiểm soát đầu tư và rào cản thương mại, từ đó làm leo thang căng thẳng địa chính trị giữa các cường quốc. Các cường quốc, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, hiện nay đang dần vũ khí hóa thế mạnh công nghệ thông các biện pháp hạn chế và kiểm soát xuất khẩu nhằm phục vụ lợi ích chiến lược quốc gia, tiềm ẩn nguy cơ làm bùng nổ một cuộc chạy đua vũ trang công nghệ.[32][33] 

Chủ nghĩa dân tộc công nghệ đã trở thành một xu hướng địa chính trị không thể đảo ngược trong kỷ nguyên số. Mặc dù mang lại những cơ hội to lớn trong việc thúc đẩy đổi mới, tăng cường tự chủ công nghệ và bảo đảm an ninh quốc gia, chủ nghĩa này cũng đặt ra những thách thức nghiêm trọng với sự phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu và leo thang căng thẳng địa chính trị, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt giữa các cường quốc như Mỹ và Trung Quốc.

Qua bài viết này, Galileo Society hy vọng đã giúp bạn hiểu hơn về thuật ngữ “Chủ nghĩa dân tộc công nghệ”. Đừng quên nhấn theo dõi fanpage Galileo Society để không bỏ lỡ những thông tin bổ ích sắp tới nhé! 


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

[1][2] Summar Iqbal Babar và Ahyousha Khan. “Changing Global Order: Rise of Techno-Nationalism and Pakistan.” Strategy Studies, Pakistan and the Evolving Geopolitical Landscape, Summer 2025, Vol. 45, No. 1, 18/08/2025. https://issi.org.pk/changing-global-order-rise-of-techno-nationalism-and-pakistan/. Truy cập ngày 16/09/2024. 

[3][13][29][31][33] Alex Capri. Techno‐Nationalism: How It's Reshaping Trade, Geopolitics and Society. John Wiley & Sons, Inc., 2020. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/book/10.1002/9781119766193. Truy cập ngày 15/09/2025, tr. 12. 

[4] Robert Reich. “The Rise of Technonationalism.” The Atlantic Monthly, 5/1987. https://www.theatlantic.com/magazine/archive/1987/05/the-rise-of-techno-nationalism/66 5772/ 

[5][19] Richard A. Bitzinger. “Technonationalism and Emerging Technologies in Smaller States”. Pondering the Improbable, RSIS, 2022. https://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2022/04/PR220406_Technonationalism-and Emerging-Technologies.pdf. Truy cập ngày 15/09/2025. 

[6][7][8] Richard J. Samuels. “Rich Nation, Strong Army”: National Security and the Technological Transformation of Japan. Cornell University Press, 1994. https://www.jstor.org/stable/10.7591/j.ctv3mtb3z. Truy cập ngày 15/09/2025. 

[9][12][21] Future Society. “What Is Techno-Nationalism?” Israel Public Policy, 2025. https://www.ippi.org.il/what-is-techno-nationalism/?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl= en&_x_tr_pto=wapp. Truy cập ngày 16/09/2025.

[10][14] Paul Evans. “Techno-nationalism in China–US Relations: Implications for Universities.” East Asia Policy, 2020. https://sppga.cms.arts.ubc.ca/wp-content/uploads/sites/5/2020/08/eap.tech-univ.june20.pd f. Truy cập ngày 17/09/2025. 

[11][17][20] Yadong Luo. “Illusions of techno-nationalism”. PMC, 2021. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8421717/. Truy cập ngày 15/09/2025. 

[15] The White House. “Fact Sheet: Two Years After the CHIPS and Science Act, Biden-Harris Administration Celebrates Historic Achievements in Bringing Semiconductor Supply Chains Home, Creating Jobs, Supporting Innovation.” Statements and Releases, 09/08/2024. https://bidenwhitehouse.archives.gov/briefing-room/statements-releases/2024/08/09/fact 

sheet-two-years-after-the-chips-and-science-act-biden-%E2%81%A0harris-administratio n-celebrates-historic-achievements-in-bringing-semiconductor-supply-chains-home-creati ng-jobs-supporting-inn/. Truy cập ngày 17/09/2025. 

[16] Godley, William; Buckley, Peter & Joseph, George. “Techno-nationalism and State Intervention in Strategic Industries.” Journal of International Business Policy, 2025. https://link.springer.com/article/10.1057/s42214-025-00210-0. Truy cập ngày 16/09/2025. 

[18] BloombergNEF. “Where Next for China’s Technology Policy: Creating the Industrial Internet.” BNEF Insights, 2023. https://about.bnef.com/insights/finance/where-next-for-chinas-technology-policy-creating -the-industrial-internet/. Truy cập ngày 16/09/2025. 

[22] U.S. Bureau of Industry and Security (BIS). “Commerce Strengthens Export Controls to Restrict China’s Capability to Produce Advanced Semiconductors for Military Use.” Press Release, 07/10/2022. https://www.bis.gov/press-release/commerce-strengthens-export-controls-restrict-chinas capability-produce-advanced-semiconductors-military. Truy cập ngày 16/09/2025. 

[23][25][26] Çağdaş Üngör. “The Trilemma of Turkish Techno-Nationalism: Choosing between Washington, Brussels and Beijing.” SWP Comment 2025/C 25, Stiftung Wissenschaft und Politik, 30/05/2025. https://www.swp-berlin.org/publikation/the-trilemma-of-turkish-techno-nationalism. Truy cập ngày 16/09/2025. 

[24][27][28][30][32] Shikha Bhakri. “Techno-nationalism is reshaping geopolitics, global trade.” Policy Circle, 06/08/2025. https://www.policycircle.org/opinion/techno-nationalism-global-trade/. Truy cập ngày 16/09/2025.