[Góc nhìn Galileo _ 23_10_2025] HÌNH ẢNH

Môi trường quốc tế đang vận động một cách nhanh chóng và định hình ngày càng rõ nét cục diện đa tầng, đa trung tâm. Bối cảnh đó tác động mạnh mẽ đến chủ nghĩa đa phương khi có sự xuất hiện thêm nhiều các cơ chế, sáng kiến đa phương phong phú về nội hàm và đa dạng trong vận hành. Trong chuyên mục Góc nhìn Galileo lần này, hãy cùng chúng mình quan sát những biểu hiện của chủ nghĩa đa phương cạnh tranh và đánh giá thuận lợi, thách thức của xu hướng này đến chủ nghĩa đa phương trên toàn cầu hiện nay nhé! 

I. Cơ sở lý luận 

Dưới góc độ thuyết thể chế (liberal institutionalism), tình trạng vô chính phủ có thể được giảm bớt bằng sự xuất hiện của các thể chế và tổ chức quốc tế giúp điều chỉnh hợp tác giữa các quốc gia trên nhiều lĩnh vực quốc tế.[1] Trong đó, nước lớn là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc xây dựng luật lệ, nguyên tắc, và chuẩn mực điều chỉnh hành vi của các quốc gia thành viên.[2] Tuy nhiên, khi lợi ích quốc gia không được bảo đảm, hoặc khi không đủ sức hỗ trợ các nước khác, nước lớn thường có xu hướng coi nhẹ, giảm cam kết, thậm chí bỏ qua và rút khỏi các thể chế đa phương.[3] Từ góc độ này, thuyết thể chế góp phần lý giải cho sự xuất hiện của những thể chế đa phương mới do nước lớn hoặc các nước tầm trung dẫn dắt, thông qua đó tối đa hoá lợi ích quốc gia và cạnh tranh ảnh hưởng với những quốc gia khác. 

Về khái niệm, chủ nghĩa đa phương truyền thống thường được hiểu là sự phối hợp hoạt động của từ ba quốc gia trở lên thông qua các công cụ thể chế nhằm giải quyết những vấn đề chung.[4] Song, trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa đa phương không chỉ phản ánh sự hợp tác giữa các chủ thể, mà còn bao hàm sự cạnh tranh và đối trọng giữa các thể chế và chủ thể khác nhau - hiện tượng này được gọi là “chủ nghĩa đa phương cạnh tranh” (tiếng Anh: Contested multilateralism). [5]

Từ sau khủng hoảng tài chính năm 2009, Chủ nghĩa đa phương cạnh tranh được xem là kết quả từ “cân bằng thể chế” giữa các nước lớn, phát sinh từ tình trạng nghi kỵ và cạnh tranh giữa các nước lớn với nhau, đi kèm với mức độ gia tăng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.[6] Trước tình hình đó, các quốc gia, tổ chức đa phương và chủ thể phi quốc gia có xu hướng tận dụng các thể chế đa phương sẵn có hoặc sáng lập thể chế mới nhằm thách thức các thông lệ hay sứ mệnh của các thể chế không còn hiệu quả, từ đó dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa đa phương cạnh tranh trong chính trị quốc tế đương đại. 

Chủ nghĩa đa phương cạnh tranh tồn tại dưới hai hình thức chính là chuyển đổi bên trong nội bộ các thể chế hiện có (regime shift) và tạo ra thể chế mới để cạnh tranh với thể chế cũ (competitive regime creation).[7] Ở hình thức thứ nhất, các quốc gia trong các thể chế hiện hành tìm cách gây ảnh hưởng nhằm thay đổi quy tắc, cơ chế vận hành và các quyết định trong nội bộ những thể chế đang cùng tồn tại. Ở hình thức thứ hai, các quốc gia không hài lòng với hệ thống cũ lựa chọn thành lập tổ chức mới nhằm hoàn thiện các mục tiêu chưa được thực hiện, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh với những thể chế đó. 

II. Biểu hiện của chủ nghĩa đa phương cạnh tranh 

1. Đa phương do Mỹ dẫn dắt 

Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, Mỹ là quốc gia dẫn đầu trong hình thành và vận hành hệ thống các tổ chức đa phương toàn cầu. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, Mỹ có xu hướng kiến tạo các thể chế đa phương theo hình thức tiểu đa phương/đa phương độc quyền. Các cơ chế đa phương này thường ưu tiên các diễn đàn có số lượng thành viên hạn chế, cơ chế hoạt động linh hoạt và trọng tâm hợp tác là lĩnh vực an ninh - chiến lược, ví dụ: Đối thoại Tứ giác An ninh (QUAD) hay Hiệp ước Đối tác an ninh tăng cường ba bên Australia - Anh - Mỹ (AUKUS). Những cơ chế này cho phép phối hợp nhanh, tăng tính ràng buộc chính trị giữa các nước đồng minh. QUAD và AUKUS là điển hình cho hướng tiếp cận này, khi được kiến tạo chủ yếu để quản lý các thách thức an ninh ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thông qua tập hợp những đối tác có lợi ích chiến lược tương đồng.[9][10] 

Thứ nhất, Chủ nghĩa đa phương cạnh tranh biểu hiện dưới góc độ Mỹ thường thúc đẩy chuyển các vấn đề nghị sự sang các diễn đàn nơi có những chuẩn mực phương Tây hay mạng lưới đồng minh mạnh như NATO, G7, hay các cơ chế chia sẻ tình báo thay vì thảo luận các vấn đề này tại diễn đàn toàn cầu mở như một số cơ quan Liên hợp quốc.[12] Thứ hai, Mỹ hiếm khi tạo các thể chế song song mà ưu tiên củng cố và dẫn dắt các thể chế sẵn có như World Bank, IMF, NATO hoặc xây dựng các mạng lưới an ninh mới (AUKUS), hướng đến xây dựng các cơ chế tiểu đa phương/hợp tác nhóm hơn là thành lập các cơ chế song song quy mô lớn.[13] Bên cạnh đó, lịch sử cho thấy Mỹ dùng ảnh hưởng về kinh tế, chính trị để duy trì và tái cấu trúc các thể chế quốc tế theo quy chuẩn của mình.[14] 

2. Đa phương do Trung Quốc dẫn dắt 

Ngược lại, đặc trưng nổi bật trong các tổ chức đa phương do Trung Quốc dẫn dắt là tính mở rộng thể chế song song rõ rệt. Ví dụ như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) hay Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) là những ví dụ điển hình với hình thức hoạt động chuyên nghiệp nhưng cơ cấu và cách ra quyết định phản ánh lợi ích của Trung Quốc.[15] Những thể chế này có xu hướng mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, khuyến khích sự tham gia của nhiều quốc gia thành viên và được nhiều học giả nhận xét là phương thức tập hợp lực lượng mới của Trung Quốc. 

Chủ nghĩa đa phương cạnh tranh trong các thể chế đa phương do Trung Quốc dẫn dắt được phản ánh qua các biểu hiện: Trung Quốc thúc đẩy việc “chuyển khung” bằng cách đưa nhiều vấn đề về hạ tầng, quản trị số, tiêu chuẩn kết nối, v.v. vào diễn ngôn và thể chế do mình dẫn dắt, từ đó lan tỏa thành những chuẩn mực mới ở các nước đối tác. Việc này sẽ làm xói mòn tính độc quyền của các chuẩn mực phương Tây trên một số lĩnh vực.[16] Thông qua việc xây dựng ngân hàng, quỹ, diễn đàn, cơ chế liên kết, Trung Quốc tạo ra những lựa chọn thể chế mới với tốc độ giải ngân cao hơn và ít ràng buộc chính sách so với các tổ chức hiện hữu như World Bank hay IMF. Điều này sẽ thu hút nhiều nước đang phát triển cần vốn hạ tầng.[17] Trung Quốc cũng thường tìm cách điều chỉnh thể chế hiện có thông qua gia tăng ảnh hưởng (quyền bỏ phiếu, tham gia lãnh đạo) và hợp tác kỹ thuật mềm - hình thức hợp tác giữa các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế nhằm chuyển giao tri thức, công nghệ, kinh nghiệm, hoặc đào tạo nhân lực, nhưng chiến lược chủ yếu vẫn là tạo các thể chế cạnh tranh thay vì hoàn toàn chiếm lĩnh thể chế phương Tây.[18] 

3. Đa phương do các chủ thể khác dẫn dắt 

Bên cạnh các thể chế do Mỹ và Trung Quốc dẫn dắt thì còn có các thể chế do những chủ thể khác lãnh đạo. Theo truyền thống, Liên minh châu Âu (EU) thúc đẩy chủ nghĩa đa phương dựa trên luật lệ và các quy tắc chung, trong khi đó, Nhật Bản kết hợp ngoại giao kinh tế để duy trì ảnh hưởng, còn ASEAN vận hành theo nguyên tắc đồng thuận và phương thức ASEAN.[19] 

EU và Nhật Bản ít tạo ra thể chế song song lớn mà tập trung đầu tư mạng lưới hợp tác (FTA/EPAs, liên minh kỹ thuật, đối tác chiến lược), thường dịch chuyển các vấn đề nghị sự sang diễn đàn có lợi thế chuẩn hóa (ví dụ: tiêu chuẩn kỹ thuật, thương mại xanh) để định hình hành vi của các quốc gia, chủ thể khác. Cụ thể, Nhật Bản thường dùng viện trợ và tiêu chuẩn kỹ thuật để tạo sự ràng buộc các đối tác vào mạng lưới của mình.[20] Trong khi đó, ASEAN thường đứng trước sức ép phải chọn lựa giữa thúc đẩy diễn đàn khu vực truyền thống hay các diễn đàn đa phương mới do một số nước lớn như Trung Quốc hoặc Mỹ dẫn dắt.[21] 

III. Cơ hội và thách thức trong môi trường quốc tế 

Chủ nghĩa đa phương cạnh tranh đặc trưng bởi các thể chế khác biệt về sứ mệnh, nguyên tắc và cách thức vận hành. Trong lĩnh vực tồn tại cạnh tranh đa phương, một hệ thống quản trị sẽ tất yếu được hình thành, củng cố và mở rộng, từ đó tạo cơ hội cho các chủ thể có thể vận dụng một cách linh hoạt.[22] Từ đó, các quốc gia có thể cải thiện mặt hạn chế của các tổ chức đa phương truyền thống, hoặc tham gia kiến tạo một thể chế đa phương khác phù hợp với lợi ích quốc gia của mình. 

Một mặt, các sáng kiến đa phương cạnh tranh góp phần tạo ra động lực để các thể chế đa phương hiện hành phải cải tổ nhằm thích ứng với những biến chuyển của thế giới, hoặc ít nhất là đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các quốc gia thành viên.[23] Mặt khác, cục diện cạnh tranh giữa các tổ chức đa phương thường được hình thành dưới sự dẫn dắt của các quốc gia mới nổi, từ đó tạo tính chính danh trước các tổ chức đa phương sẵn có nhằm phân bổ lại quyền lực.[24] 

Đối với các quốc gia vừa và nhỏ, cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn thông qua tổ chức đa phương tạo ra khoảng trống quyền lực để các quốc gia này tham gia từ sớm vào việc định hình khuôn khổ, “luật chơi” ở những lĩnh vực mới của đời sống quốc tế như chuyển đổi năng lượng, hội nhập số hay phát triển bền vững. Việc hoạt động tích cực ở các thể chế đa phương mới tạo ra sự đa dạng về nguồn lực mà nhóm quốc gia này có thể tiếp nhận, phục vụ cho quá trình phát triển và nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế.[25] 

Cơ hội và thách thức từ chủ nghĩa đa phương cạnh tranh là đan xen và chính cách các chủ thể tiếp nhận xu thế này quyết định chiều hướng hệ quả diễn ra. Một quốc gia có thể phải đánh đổi uy tín khi rút lui hoặc giảm cam kết với thể chế để nghiêng về cơ chế khác mang tính loại trừ thể chế ban đầu, qua đó bị ràng buộc sâu hơn vào các sáng kiến có nội hàm khác biệt, thậm chí đối lập.[26] Nhiều cơ chế, diễn đàn được khởi xướng bởi các nước lớn có xu hướng tập hợp lực lượng, đi kèm rủi ro của cục diện cạnh tranh nước lớn, từ đó gây áp lực “chọn phe” cho quốc gia vừa và nhỏ.[27] Mặt khác, đa phương cạnh tranh thường ở dưới hình thức “tiểu đa phương” khiến các chủ thể phi quốc gia dễ bị bỏ qua, đặc biệt là ở lĩnh vực như kinh tế, an ninh, quân sự, v.v..[28]

Tóm lại, các sáng kiến đa phương cạnh tranh mới hiện nay đặt ra nhiều câu hỏi về tính hiệu quả của các tổ chức đa phương truyền thống. Trong bối cảnh đó, các thể chế hiện hữu đứng trước yêu cầu phải thích ứng với những biến động nhanh chóng và khó dự đoán của môi trường quốc tế. Đặc biệt, sự suy giảm cam kết của các nước lớn có vai trò dẫn dắt trong hệ thống đa phương đã khiến chủ nghĩa đa phương cạnh tranh trở thành xu thế nổi bật, phản ánh rõ nét sự chuyển dịch quyền lực trong trật tự quốc tế đương đại. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

[1] Robert Keohane, “After Hegemony,” Princeton University Press, trang 29, 1984.

[2] Harald Muller, Carsten Rauch, “Great Power Multilateralism and the Prevention of War: Debating a 21st Century Concert of Powers”, Routledge, 2018. https://www.routledge.com/Great-Power-Multilateralism-and-the-Prevention-of-War Debating-a-21st/Muller-Rauch/p/book/9781138634435. 

[3][4] Đặng Đình Quý, “Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2019. 

[5] Nguyễn Thị Lệ Hà, Đỗ Thị Thuỷ, “Phân tán quyền lực và sự phát triển của chủ nghĩa đa phương cạnh tranh trong chính trị quốc tế từ 2010 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (138), tháng 3/2025. 

[6][7] Morse, J.C., Keohane, R.O. “Contested multilateralism.” Rev Int Organ 9, 385-412 (2014). https://doi.org/10.1007/s11558-014-9188-2. 

[9][12][16][21][22][24] Julia C. Morse, Robert O. Keohane. “Contested multilateralism”. Rev Int Organ, Vol. 9, No. 1, 2014. https://rkeohane.scholar.princeton.edu/sites/g/files/toruqf4441/files/rkeohane/files/publ ishedcm.pdf. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[10] Thu Nguyen. “The Quad, AUKUS, and the future of alliances in the Indo-Pacific”. Perth USAsia Centre, 2022. https://perthusasia.edu.au/research-and-insights/the-quad-aukus-and-the-future-of-allia nces-in-the-indo-pacific/. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[13] “Alliances in a Shifting Global Order: Rethinking Transatlantic Engagement with Global Swing States”. German Marshall Fund of the United States, 2023. https://www.gmfus.org/sites/default/files/2023-04/Global%20Swing%20States_27%20 apr_FINAL_embargoed%20until%202%20May%2023.pdf. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[14] Wijk, Rob de, Jack Thompson, and Esther Chavannes. “What Is Multilateralism?” Adjusting the Multilateral System to Safeguard Dutch Interests. Hague Centre for Strategic Studies, 2020. http://www.jstor.org/stable/resrep26672.5. Truy cập ngày 20/10/2025.

[15] Nicolas, Françoise. “The China‑led AIIB, a Geopolitical Tool?”. Institut français des relations internationales, 2025. https://www.ifri.org/en/external-articles/external-publications/china-led-aiib-geopolitic al-tool. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[17] Matthew D Stephen. “China's New Multilateral Institutions: A Framework and Research Agenda”. International Studies Review, Vol. 23, Issue 3, 2021, Pages 807–834, https://doi.org/10.1093/isr/viaa076. Truy cập ngày 20/10/2025. [18] Bin Gu, Chinese Multilateralism in the AIIB, Journal of International Economic Law, Vol. 20, Issue 1, March 2017, 137–158. https://doi.org/10.1093/jiel/jgx006. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[19][20] Pacheco Pardo, Ramon, and Eva Pejšová. “Deepening EU–Japan Cooperation”. Policy Department for External Relations, Directorate‑General for External Policies of the European Parliament, 2024. https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/IDAN/2024/754443/EXPO_IDA%282024%29754443_EN.pdf. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[23][26] C. KREUDER-SONNEN and B. ZANGL, “Varieties of contested multilateralism: Positive and negative consequences for the constitutionalisation of multilateral institutions.” Global Constitutionalism, Vol. 5, No. 3, pp. 327–343, 2016. https://doi.org/10.1017/S2045381716000150. Truy cập ngày 20/10/2025. 

[25][27][29] Đỗ Hùng Việt. “Xu hướng tập hợp lực lượng thông qua các cơ chế đa phương mới trên thế giới hiện nay và một số đề xuất chính sách đối với Việt Nam”. Tạp chí Cộng sản, ngày 24/06/2024. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/934602/xu-huong-tap-hop-luc-luong-thong-qua-cac-co-che-da-phuong-moi-tren-the-gioi-hien-nay-va-mot-so-de-xuat-chinh-sach-doi-voi-viet-nam.aspx. Truy cập ngày 20/10/2025.