Sau vài thập kỷ nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư, Trung Quốc đã thành công vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới [1]. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, Trung Quốc cũng đang mất dần đi nhiều lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư, đòi hỏi các tập đoàn đa quốc gia phải nhanh chóng đưa ra một chiến lược thích ứng phù hợp. “Trung Quốc+1” ra đời từ bối cảnh đó và đang ngày càng trở nên phổ biến. Hôm nay, trong chuyên mục “Từ điển Galileo”, hãy cùng Galileo Society tìm hiểu về nội dung cũng như những tác động cơ bản của chiến lược “Trung Quốc+1”.
“Trung Quốc+1” (tên tiếng Anh: China plus one) là một chiến lược kinh doanh quốc tế được sử dụng bởi các tập đoàn đa quốc gia trong vài năm trở lại đây nhằm bảo hiểm rủi ro khi đầu tư vào Trung Quốc. Theo đó, các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào quốc gia này sẽ mở rộng chi nhánh hoặc dịch chuyển cơ sở sản xuất của họ sang cả các quốc gia khác trong khu vực như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Myanmar [2].
Chiến lược này xuất phát từ sự lo lắng ngày một tăng của các nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh tại Trung Quốc. Một mặt, nền kinh tế Trung Quốc đang chứng kiến đà tăng trưởng mạnh và chất lượng tay nghề lao động ngày một nâng cao. Mặt khác, thực tế trên cũng đi kèm với sự gia tăng trong chi phí nhân công và chi phí vận hành sản xuất, sự xóa bỏ nhiều ưu đãi thuế và thiếu nhất quán trong thực thi luật sở hữu trí tuệ. Chính sách một con của Trung Quốc cũng gây nên tình trạng thiếu hụt nhân công lao động trẻ để kịp thời thay thế những lao động đã nghỉ hưu [3]. Do đó, để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, nhiều tập đoàn từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước phương Tây đã tìm cách chuyển dịch một phần hoặc toàn bộ công việc sản xuất sang các quốc gia Đông Nam Á khác có thể chế chính trị tương đối ổn định cùng thị trường lao động trẻ dồi dào với chi phí thấp hơn Trung Quốc [4].
Những lợi ích mà chiến lược “Trung Quốc+1” đem lại cho các doanh nghiệp bao gồm: (i) tránh được chi phí nhân công đang tăng lên nhanh chóng ở các vùng ven biển của Trung Quốc trong khi vẫn tận dụng được ngành công nghiệp hỗ trợ rất phát triển ở quốc gia này để nhập khẩu linh kiện; (ii) giảm chi phí sản xuất; (iii) giảm bớt rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động tiền tệ hay rủi ro thuế quan nhờ việc đa dạng hóa đầu tư; (iv) mở rộng cơ hội tiếp cận thêm nhiều thị trường mới đang phát triển sôi động trong khu vực châu Á [5].
Bất chấp những khó khăn kể trên ở Trung Quốc, các doanh nghiệp nước ngoài cũng không có khả năng sẽ dịch chuyển hoàn toàn tất cả các cơ sở sản xuất khỏi quốc gia này. Trung Quốc vẫn là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sở hữu mạng lưới cung ứng và cơ sở hạ tầng, công nghệ phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, chi phí sản xuất cũng chỉ tăng chủ yếu ở các tỉnh duyên hải - nơi có nền kinh tế phát triển hơn so với nội địa, khiến khả năng doanh nghiệp rút hoàn toàn cơ sở sản xuất khỏi Trung Quốc khó xảy ra. Tuy vậy, chiến lược “Trung Quốc+1” vẫn chứng tỏ là một lựa chọn bền vững cho nhiều tập đoàn và có xu hướng tiếp tục phổ biến trong tương lai [6].
Kết thúc bài viết trong chuyên mục “Từ điển Galileo” lần này, CLB hy vọng đã giúp bạn đọc hiểu thêm về khái niệm “Trung Quốc+1” cũng như những động lực đằng sau chiến lược này. Galileo Society sẽ còn mang đến nhiều bài viết thú vị và bổ ích hơn nữa trong tương lai. Vì vậy, các bạn đừng quên theo dõi fanpage Galileo Society thường xuyên để không bỏ lỡ những thông tin mới nhất nhé!
Tài liệu tham khảo:
[1], [2] Bùi Thị Hồng Ngọc, Trần Thị Mai Thành. 2017. “Chiến lược “Trung Quốc+1” và những tác động đối với thương mại Việt Nam.” Tạp chí tài chính. Truy cập ngày 16 tháng 4, 2021. https://tapchitaichinh.vn/.../chien-luoc-trung-quoc-1-va...
[3], [5] Symington, P. 2013. “China plus one”. FTI Journal. Truy cập ngày 16 tháng 4, 2021.
https://ftijournal.com/article/china-plus-one
[4] BCCJ Acumen. 2011. “China plus one”. Truy cập ngày 16 tháng 4, 2021.
https://bccjacumen.com/china-plus-one/
[6] Procurement Bulletin. “Understanding the “China, Plus One” strategy”. Truy cập ngày 16 tháng 4, 2021.
https://www.procurementbulletin.com/understanding-the.../
