[Chuyên mục đặc biệt _ 09_03_2022]

“Trong một Châu Âu thời kỳ mới, an ninh của mỗi quốc gia đều có mối liên hệ không thể tách rời với an ninh của các nước láng giềng”, đó là lời tuyên bố đanh thép từ phía các nhà lãnh đạo những quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Hội nghị Thượng đỉnh London 1990. [1] Tuyên bố trên đã đánh dấu sự đổi mới trong tư duy về an ninh quốc gia trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, tạo tiền đề cho sự mở rộng không ngừng của một trong những liên minh quân sự đa phương lớn nhất trên thế giới hiện nay. Quá trình mở rộng thành viên từ sau Chiến tranh Lạnh của NATO đã đem tới những thay đổi sâu sắc trên bàn cờ chính trị của Châu Âu, đồng thời kéo theo những mâu thuẫn mới bùng nổ trong quan hệ giữa các chủ thể quốc gia-dân tộc trong khu vực. Trên thực tế, đây cũng chính là nguyên nhân chủ chốt dẫn đến tình hình chiến sự căng thẳng hiện nay giữa Nga và Ukraine. Để hiểu hơn về những diễn biến phức tạp trong thời gian gần đây, hãy cùng Galileo Society tìm hiểu về quá trình “Đông tiến” của NATO trong không gian hậu Xô Viết qua bài viết dưới đây nhé!

Hậu Chiến tranh thế giới thứ 2, trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản tại Châu Âu, sự cấp thiết trong việc thành lập một liên minh quân sự mới nhằm củng cố ổn định chính trị tại khu vực đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo phương Tây cùng ngồi vào bàn đàm phán. Ngày 4/4/1949, 12 quốc gia gồm Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Anh và Mỹ chính thức ký kết Hiệp ước thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Tiếng Anh: North Atlantic Treaty Organization, viết tắt: NATO) tại Washington D.C với ba mục tiêu chính. Thứ nhất, kiềm chế sự ảnh hưởng đang lớn dần của chủ nghĩa cộng sản đang được lãnh đạo bởi Liên bang Xô Viết tại châu Âu. Thứ hai, ngăn chặn sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt ở châu lục này. Thứ ba, khuyến khích hội nhập chính trị ở châu Âu. Cốt lõi của Hiệp ước NATO được thể hiện ở điều khoản số 5 về cam kết phòng thủ tập thể, trong đó quy định “bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào vào một hay một số thành viên của liên minh đều được coi là tấn công vào toàn bộ liên minh; nếu bị tấn công, mỗi nước thành viên có thể sử dụng quyền của mình hoặc quyền phòng thủ tập thể để hỗ trợ cho các thành viên khác, nếu hành động đó là cần thiết, để khôi phục và bảo toàn an ninh của khu vực Bắc Đại Tây Dương”.[2]

Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và khối Hiệp ước Warsaw, mối đe dọa lớn nhất, đồng thời là mục đích quan trọng nhất cho sự ra đời của khối đã không còn. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với sự chấm dứt về các vấn đề an ninh. Bởi lẽ, theo các nhà lãnh đạo NATO, hai trong số ba mục tiêu cho sự ra đời của khối vẫn còn đang dang dở, đó chính là: ngăn chặn sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt trong khu vực này và khuyến khích hội nhập chính trị ở châu Âu.[3] Trên cơ sở đó, NATO thực hiện kế hoạch “Đông tiến”, lôi kéo, kết nạp nhiều nước vốn là “địch thủ” trước đây ở Trung Âu và Đông Âu, từ đó tiến tới mục tiêu chiến lược là mở rộng tầm ảnh hưởng ra không gian hậu Xô Viết - tức các quốc gia thuộc Liên Xô cũ.[4]

Việc mở rộng được NATO tiến hành trên cơ sở chính sách mở cửa dựa trên điều khoản số 10 trong Hiệp ước thành lập. Theo đó, bất kỳ “quốc gia châu Âu nào có vị thế nhằm tiếp tục áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước này và đóng góp vào an ninh của khu vực Bắc Đại Tây Dương” đều có thể trở thành thành viên của NATO. Mặc dù vậy, quá trình “Đông tiến” đã đưa tới sự phản đối mạnh mẽ từ phía Moscow khi khối quân sự này bày tỏ nguyện vọng sẽ kết nạp một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ nằm ở sát sườn biên giới Nga vào những năm đầu của thế kỷ XXI.[5] Tuy vấp phải những phản ứng trái chiều từ Nga, tiến trình mở rộng thành viên của NATO vẫn không có dấu hiệu chững lại, bởi lẽ những quốc gia thành viên mới được kết nạp đều có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và đảm bảo an ninh của liên minh quân sự này và ngược lại, đây cũng là những quốc gia mong muốn nhận được các lợi ích về kinh tế và quân sự từ NATO.

Trong tổng số 15 quốc gia độc lập nằm trong không gian hậu Xô Viết, 3 nước đã trở thành thành viên của NATO và một số quốc gia đã và đang trong quá trình hình thành những liên kết với khối liên minh quân sự này. Ngày 29/4/2004, ba quốc gia vùng Baltic gồm Estonia, Latvia, Lithuania đã chính thức gia nhập NATO. Ngoài ra, Gruzia và Ukraine cũng đã bày tỏ nguyện vọng được trở thành thành viên của khối.[6]

Sau năm 1991, ưu tiên chính sách của ba quốc gia vùng Baltic (Estonia, Latvia và Lithuania) là nhanh chóng hội nhập vào các thể chế châu Âu, các tổ chức toàn cầu nói chung và NATO nói riêng. Việc gia tăng tầm quan trọng trên bản đồ chính trị Châu Âu cũng như trong tầm nhìn của những nhà hoạch định chính sách phương Tây là mục tiêu mà ba quốc gia nêu trên hướng đến khi nhắm tới tư cách thành viên của khối liên minh quân sự này.[7] Bên cạnh đó, mối quan hệ mâu thuẫn và phức tạp kéo dài giữa các nước Baltic với Nga cũng là lý do thúc đẩy các quốc gia này gia nhập NATO. Kể từ sau năm 1991, Nga đã thường xuyên có những động thái đối đầu gây nên bất ổn và gay gắt trong quan hệ với các quốc gia vùng Baltic. Nga đã sử dụng sức ép kinh tế thông qua việc cảnh báo ngừng cung cấp dầu và khí đốt cũng như ngừng vận chuyển nhiên liệu thông qua tuyến đường ở các nước này, khiến các quốc gia Baltic mất đi một nguồn thu từ các nhà xuất khẩu Nga. Ngoài ra, Nga còn sử dụng sức ép quân sự mà đáng chú ý nhất là việc tiến hành các cuộc tập trận quân sự trên bộ và trên biển gần biên giới Latvia và Estonia.

Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới sự bùng nổ các mâu thuẫn nằm ở những tranh cãi về quá khứ thuộc Liên Xô cũ. Vào tháng 6/2000, Nga tuyên bố rằng các nước vùng Baltic đã “tự nguyện” gia nhập Liên Xô đúng theo “luật pháp quốc tế” và đã “mời” quân đội Liên Xô tiến vào lãnh thổ của họ vào đầu những năm 1940. Lời khẳng định đến từ Nga đã đi ngược lại với quan điểm của các nước Baltic về quá khứ từng thuộc Liên Xô cũ, cùng với nhiều vấn đề gây tranh cãi khác kể từ khi các quốc gia vùng Baltic chính thức có được nền độc lập, đã tạo động lực lớn hơn nữa cho nỗ lực gia nhập NATO của Latvia, Estonia và Lithuania. Lãnh đạo các quốc gia Baltic tuyên bố rằng, chừng nào Nga không thừa nhận rằng họ là nạn nhân của sự cai trị của Liên Xô chứ không phải là những nước tự nguyện tham gia Liên Xô, thì những nghi ngờ về kế hoạch tấn công của Moscow sẽ còn tồn tại. Latvia, Estonia và Lithuania coi tư cách thành viên NATO là phương án đáng tin cậy duy nhất để xóa bỏ những nghi ngờ đó và phòng ngừa trước một động thái căng thẳng hơn đến từ Nga.[8] Những lý do này lý giải nguyên nhân tại sao các nước Baltic mong muốn nhận được sự bảo trợ của NATO.

Ở chiều ngược lại, khi kết nạp các quốc gia kể trên vào liên minh, NATO nói riêng và các nước phương Tây nói chung cũng sẽ nhận được lợi ích quan trọng đối với an ninh khu vực. Việc mở rộng sự hợp tác giữa các quốc gia Baltic với NATO là biểu hiện cho sự cam kết của phương Tây trong việc tham gia vào các vấn đề vùng Baltic.[9] Sự ổn định chính trị của các quốc gia vùng Baltic đóng góp đáng kể vào sự ổn định chính trị của Biển Baltic cũng như toàn bộ khu vực Bắc Âu. Các quốc gia này đều có sự góp mặt trong hầu hết các tổ chức quốc tế quan trọng và tạo thành một cửa ngõ trọng yếu để giao thương với Nga, Belarus và Ukraine. Các nước Baltic cùng với Phần Lan sẽ hình thành một khu vực hòa bình ổn định và có khả năng tác động tích cực ở phía tây nước Nga. Theo đó, Estonia, Latvia và Lithuania đóng góp vào an ninh khu vực và toàn bộ châu Âu bằng cách tham gia vào tất cả các hoạt động của chương trình Đối tác vì Hòa bình (tiếng Anh: Partnership for Peace, viết tắt: PfP) và đóng góp cho Lực lượng Thực thi (tiếng Anh: The Implementation Force, viết tắt: IFOR) của NATO ở Bosnia và Lực lượng Kosovo (tiếng Anh: The Kosovo Force, viết tắt: KFOR) ở Kosovo. Mặt khác, các quốc gia vùng Baltic cũng có thể đóng vai trò nâng cao sự ổn định và an ninh tại các khu vực biên giới phía Tây của Nga.[10]

Đối với Ukraine, việc trở thành một thành viên chính thức sẽ cho phép quân đội của các quốc gia thành viên NATO thực hiện các hành động quân sự trong lãnh thổ nước này. Sự đảm bảo về sức mạnh quân sự này sẽ là một biện pháp răn đe vững chắc đối với nguy cơ tấn công từ phía Nga. Ngoài ra, nếu gia nhập NATO, Ukraine sẽ tiến gần hơn về phía châu Âu và có nhiều khả năng gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) - một mục tiêu chính sách khác của Ukraine. Tư cách thành viên chính thức của liên minh cũng sẽ giúp nước này xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ và kéo Ukraine xa hơn khỏi phạm vi ảnh hưởng của Nga.[11] Trong khi đó, một số ý kiến nhận định, Mỹ và NATO đang hướng đến mục tiêu đưa Ukraine vào quỹ đạo kiểm soát và “phương Tây hóa Ukraine” nhằm thúc đẩy “cách mạng màu” xảy ra bên trong chính nước Nga, góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của Nga.[12] Khi xem xét việc gia nhập liên minh, dựa trên điều khoản số 5 của Hiệp ước NATO, nếu Ukraine trở thành thành viên NATO, bất kỳ động thái quân sự nào của Nga với Ukraine đều sẽ khiến Moscow vướng vào xung đột với toàn bộ 27 thành viên NATO khác.[13] Trên thực tế, lịch sử cho thấy cả Pháp và Đức, 2 nước thành viên của NATO, đều đã từng tấn công Nga thông qua tuyến đường Đông Nam Châu Âu. Do đó, Moscow luôn có những động thái cẩn trọng đối với sự hiện diện quân sự của nước ngoài tại Ukraine nói riêng và khu vực Đông Âu nói chung. Ngoài ra, Ukraine còn nằm gần vùng Volga của Nga, trung tâm nông nghiệp của nước này và là điểm tiếp cận dầu mỏ ở Biển Caspi.[14] Việc mở rộng NATO trong khu vực lân cận được Tổng thống Putin coi là hành động thù địch nhằm bao vây và làm suy yếu Nga, dẫn đến việc Điện Kremlin mất dần ưu thế trong khu vực.[15]

Trước tình hình chiến sự căng thẳng tại Ukraine trong thời gian vừa qua, NATO tiếp tục từ chối chấp nhận yêu cầu của Nga về việc ngừng mở rộng liên minh cũng như rút tất cả quân đội của các nước thành viên NATO giáp biên giới với Nga.[16] Tuy nhiên, khả năng kết nạp thêm thành viên vào NATO còn phụ thuộc vào vị trí của từng quốc gia. Đối với những nước bị coi là mối đe dọa về an ninh với Nga như Ukraine hay Gruzia, những ý định của NATO đều phải đối mặt với những phản ứng gay gắt và quyết liệt từ phía quốc gia này.[17] Vào đầu năm nay, Nga đã cùng Mỹ và NATO đàm phán về dự thảo Hiệp ước bảo đảm an ninh Nga - Mỹ và dự thảo Hiệp ước bảo đảm an ninh Nga - NATO. Trong đó, nội dung chính của hai bản dự thảo xoay quanh việc Nga yêu cầu NATO không tiếp tục mở rộng và không kết nạp Ukraine.[18] Trong một động thái mới nhất vào ngày 8/3 vừa qua, tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết Ukraine không còn mong muốn gia nhập NATO như trước và sẵn sàng đàm phán trực tiếp với Tổng thống Nga Vladimir Putin.[19] Như vậy, NATO vẫn để ngỏ khả năng trở thành thành viên cho các nước mong muốn gia nhập liên minh, đồng thời khẳng định tính chất địa chính trị của quốc gia đó là yếu tố quan trọng để quyết định sự thuận lợi hay khó khăn của quá trình này. Khả năng NATO mở rộng còn phụ thuộc vào diễn biến của những mâu thuẫn an ninh - chính trị hiện tại trên thế giới và mục tiêu của mỗi quốc gia.

Có thể nói, với vai trò là liên minh quân sự lớn nhất thế giới, sự mở rộng về phía Đông của NATO luôn có tầm ảnh hưởng nhất định đến sự ổn định, hòa bình của khu vực và toàn cầu. Qua bài viết này, Galileo Society hy vọng rằng các bạn đã có được một cái nhìn tổng quan hơn về NATO cũng như những tác động của các động thái từ phía tổ chức này đối với những diễn biến hết sức căng thẳng trong những ngày gần đây trên chiến trường Nga - Ukraine. Đừng quên theo dõi fanpage của Galileo Society để cập nhật những thông tin thú vị trong chuyên mục đặc biệt “Xung đột Nga - Ukraine”!


Tài liệu tham khảo:

[1] “20 years ago: London Declaration marks birth of new NATO”, NATO, 06/06/2010. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.nato.int/cps/ru/natohq/news_64790.htm...

[2],[3] “A Short History of NATO”, NATO. Truy cập ngày 05/03/2022.

https://www.nato.int/cps/en/natohq/declassified_139339.htm

[4] Minh Đức, “Nato 70 năm tồn tại và những khác biệt”, Tạp chí quốc phòng toàn dân,  09/03/2020. Truy cập ngày 06/03/2022.

http://tapchiqptd.vn/.../nato-70-nam-ton-tai.../15192.html

[5] Quang Đào, “NATO và quá trình mở rộng thành viên”, Báo Thế giới và Việt Nam, 19/02/2022. Truy cập ngày 05/03/2022.

https://baoquocte.vn/nato-va-qua-trinh-mo-rong-thanh-vien...

[6] Duggal, Hanna, “Infographic: NATO’s members, mission and tensions with Russia”, Al Jazeera, 12/01/2022. Truy cập ngày 05/03/2022.

https://www.aljazeera.com/.../infographic-nato-members...

[7][10] Zájedová, Iivi, “The Baltic States' Security and NATO Enlargement”, SAGE SPECIAL ISSUE: The Balkans, NATO and European Security after the Kosovo War, 1999/2000. Truy cập ngày 06/03/2022.

https://www.jstor.org/stable/23615944

[8] Kramer, Mark, “NATO, the Baltic states and Russia: a framework for sustainable enlargement”, International Affairs, 2002. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://library.fes.de/.../jou.../swetsfulltext/15872680.pdf

[9] D. Asmus, Ronald; C. Nurick, Robert, “NATO Enlargement and the Baltic States”, Survival: Global Politics and Strategy, 03/03/2008. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.tandfonline.com/.../10.1080/00396339608442849...

[11] Kocho-Williams, Alastair, “What’s NATO, and why does Ukraine want to join?”, The Conversation, 31/01/2022. Truy cập ngày 05/03/2022.

https://theconversation.com/whats-nato-and-why-does...

[12] Nguyễn Anh Tuấn, “Căng thẳng Nga - Ukraine: Bản chất, nguyên nhân và triển vọng”, Tạp chí Cộng sản, 03/03/2022. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.tapchicongsan.org.vn/.../cang-thang-nga...

[13] Thanh Tâm, “Nỗ lực đông tiến của NATO đẩy Ukraine vào khủng hoảng”, VNexpress, 15/02/2022. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://vnexpress.net/no-luc-dong-tien-cua-nato-day...

[14] Thalis, Alexander, “Threat or Threatened? Russia in the Era of NATO Expansion”, Australian Institute of International Affairs, 03/06/2018. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.internationalaffairs.org.au/.../threat-or.../

[15] Natia Seskuria, “Russia’s “Hybrid Aggression” against Georgia: The Use of Local and External Tools”, CSIS, 21/09/2021. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.csis.org/.../russias-hybrid-aggression...

[16] Erlanger, Steven; Troianovski, Anton, “NATO and Russia Talk Frankly, but Past One Another for Now”, The New York Times,12/01/2022 . Truy cập ngày 05/03/2022

https://theconversation.com/whats-nato-and-why-does...

[17] Beauchamp, Zack, “Everything you need to know about the military alliance that's freaking out Russia - Vox “, VOX, 10/04/2014. Truy cập ngày 05/03/2022.

https://www.vox.com/.../9-questions-about-nato-you-were...

[18] Lê Thế Mẫu, “Đàm phán về bảo đảm an ninh giữa Nga - Mỹ - NATO: Hy vọng mong manh”, Tạp chí Cộng sản, 23/02/2022. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://www.tapchicongsan.org.vn/.../dam-phan-ve-bao-dam...

[19] Hoàng Phạm, “Tổng thống Zelensky: Ukraine không còn mong muốn gia nhập NATO như trước”, VOV, 08/03/2022. Truy cập ngày 09/03/2022.

https://vov.vn/.../tong-thong-zelensky-ukraine-khong-con...