VẬN DỤNG PHƯƠNG CHÂM NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH “DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN” TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo quốc gia, nhà chính trị lỗi lạc với gần 60 năm hoạt động cách mạng không ngừng nghỉ, là anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Người cũng là một nhà ngoại giao kiệt xuất, góp phần sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.[1] Vừa kế thừa truyền thống ngoại giao của cha ông, vừa tiếp thu tinh hoa phong cách ngoại giao thế giới thông qua cả lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dần hình thành nên tư tưởng, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của riêng mình, trong đó có triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.[2] Những nguyên lý, quan điểm của Người về đối ngoại vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, là kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 133 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023), hãy cùng Galileo Society tìm hiểu về sự vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vào cân bằng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hoạch định chính sách đối ngoại từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (tháng 1/2021) đến nay. 

1. Phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 

Phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được nhắc đến lần đầu vào ngày 31/5/1946, trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Thời điểm đó, các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc đang tranh giành ảnh hưởng và có nhiều toan tính đối với những quốc gia như Việt Nam. Đất nước gặp muôn vàn thử thách, đòi hỏi sự đoàn kết, bình tĩnh và có những đối sách phù hợp, linh hoạt để bảo vệ nền hòa bình của dân tộc. Biết trước tình hình sẽ rất khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Cụ Huỳnh Thúc Kháng một câu nói giá trị mà thế hệ hiện nay vẫn học tập và noi theo: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “dĩ bất biến, ứng vạn biến.”[3] 

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi, vừa là nguyên lý triết học, vừa là nguyên tắc trong binh pháp phương Đông.[4] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những tinh hoa tư tưởng chính trị Đông Tây và vận dụng tư duy biện chứng của chủ nghĩa Marx-Lenin, từ đó khái quát thành một nguyên tắc ứng xử trong hoạt động cách mạng nói chung và trong ngoại giao nói riêng.[5] Bên cạnh cơ sở lý luận, phương châm ngoại giao này còn dựa trên cơ sở thực tiễn rằng, Việt Nam là một nước nhỏ nằm cạnh nước lớn, đồng thời có vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, đòi hỏi sự khéo léo, mềm dẻo trong ứng xử để đảm bảo lợi ích “bất biến” của quốc gia, đó là độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, giữ hòa bình và ổn định cho đất nước. 

Về nội dung cốt lõi, “dĩ bất biến” có nghĩa là luôn luôn cứng rắn về nguyên tắc, kiên định với lợi ích quốc gia - dân tộc, trung thành với lý tưởng, mục tiêu chiến lược cách mạng - những yếu tố không thể đánh đổi và thay thế của đất nước. Theo GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu, cái “bất biến” lớn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là bốn yếu tố liên hệ mật thiết với nhau: độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ. Còn “ứng vạn biến” có nghĩa là tùy thời thế, đối tượng mà linh hoạt ứng phó, giải quyết vấn đề một cách tinh tế, có hiệu quả. Cái “vạn biến” muôn hình muôn vẻ, là toàn bộ sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, phản ánh sự đa dạng, phong phú của thực tiễn cách mạng biến đổi khôn lường. Như vậy, triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” có nghĩa là lấy cái không thay đổi ứng phó với cái thay đổi. Song song với đó, ứng phó với cái “vạn biến” nhưng không xa rời, vứt bỏ, đánh mất cái “bất biến”; tuyệt đối không thể đem cái “bất biến” ấy ra mua bán, đổi chác.[6] 

Có thể thấy, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là “hạt ngọc quý trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong lý luận và phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh nói riêng”,[7] là phương pháp ngoại giao hiệu quả, có sức tác động mạnh, khi thế nước đang “ngàn cân treo sợi tóc” cũng như khi thời bình. Đây là kim chỉ nam cho quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc, cũng chính là cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của nước Việt Nam hiện đại trong giải quyết mối quan hệ hữu cơ giữa “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế”. 

2. Vận dụng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay 

2.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay 

Ngày nay, tình hình thế giới liên tục biến đổi. Bên cạnh xu thế lớn là toàn cầu hoá và các quốc gia hòa bình, hợp tác cùng phát triển, hệ thống quan hệ quốc tế có những vấn đề mới. Đầu tiên, đại dịch Covid-19 để lại hệ lụy nghiêm trọng về an sinh - xã hội - phát triển trên toàn cầu, đồng thời tạo ra nguy cơ về các vấn đề an ninh phi truyền thống khác. Thứ hai, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn dẫn đến quá trình tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế diễn ra mạnh mẽ, đặt ra thách thức cho các nước vừa và nhỏ trong việc theo đuổi chính sách đối ngoại cân bằng và tự chủ. Thứ ba, xung đột Nga - Ukraine đã làm biến động sâu sắc nền chính trị quốc tế, đặt ra sự lo ngại về đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự chung của thế giới. Cuối cùng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang vươn lên phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của cạnh tranh nước lớn, đặc biệt cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung. 

Cùng với những biến động của môi trường quốc tế, thế và lực của Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến sâu sắc sau 37 năm thực hiện Đổi mới. Về an ninh, vị trí địa-chính trị, địa-chiến lược quan trọng tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội hợp tác sâu rộng với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, những mâu thuẫn và tranh chấp còn tồn tại liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và biên giới tiếp tục là một thách thức cho nước ta trong đấu tranh và bảo vệ an ninh quốc gia. Về phát triển, nền kinh tế Việt Nam sau đại dịch Covid-19 đã từng bước quay về đà ổn định, giúp đất nước đảm bảo an sinh - xã hội và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trong hệ thống quan hệ quốc tế được nâng cao. Cụ thể, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới và đạt được sự tín nhiệm qua việc giữ các vai trò quan trọng trong nhiều cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế.[8] Đánh giá về thế và lực của Việt Nam hiện nay, tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII (2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.[9]

2.2 Vận dụng phương châm ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong xác định tư duy đối ngoại Việt Nam hiện nay 

Bối cảnh mới đòi hỏi ngoại giao Việt Nam hoạt động tích cực trong tiến trình hội nhập toàn cầu và đặt ra thách thức về đảm bảo tính độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách đối ngoại. Vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Đảng và Nhà nước xác định tư duy đối ngoại giải quyết tốt yếu tố bất biến là “độc lập, tự chủ” và yếu tố vạn biến là những thay đổi trong tiến trình “hội nhập quốc tế”;[10] từ đó, triển khai vào công tác hoạch định các chủ trương và chính sách đối ngoại cụ thể, phù hợp. 

Trước nhất, phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được vận dụng trong việc hình thành tư duy đối ngoại nhất quán, linh hoạt và hiệu quả của ngoại giao Việt Nam. Đầu tiên, tư duy “độc lập, tự chủ” trong đối ngoại là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho các hoạt động ngoại giao từ khi Việt Nam lập quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập là không phụ thuộc, không bắt chước, theo đuôi, giáo điều; tự chủ là chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, tự chịu trách nhiệm với nhân dân và nhà nước.[11] Vì vậy, độc lập, tự chủ trong đối ngoại là sự độc lập trong việc xác định và thực hiện các mục tiêu và lợi ích lâu dài, nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc chính đáng. Kế thừa và phát huy tinh thần nêu cao độc lập, tự chủ của Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước đã khẳng định vị trí “bất biến” của hai yếu tố độc lập, tự chủ xuyên suốt quá trình lãnh đạo đất nước, từ công cuộc đấu tranh cách mạng ở hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đến giai đoạn hiện nay. Cụ thể, tinh thần này thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng, trong tư tưởng chỉ đạo hoạt động của Việt Minh ở giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa giành chính quyền với chủ trương “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.[12] Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tiếp tục “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển”.[13] 

Thứ hai, về tư duy “hội nhập quốc tế” trong đối ngoại. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định hợp tác, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại mới. Kế thừa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ về tầm quan trọng của hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay, từ đó kịp thời xác định đúng xu thế chủ đạo của thời kỳ mới là toàn cầu hoá; thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, tăng cường đa phương hoá, đa dạng hoá. Theo đó, Đảng và Nhà nước xác định hai nguyên tắc cốt lõi trong hội nhập quốc tế là nguyên tắc độc lập và thống nhất, thêm bạn bớt thù; và nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Mặt khác, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập với tinh thần quốc tế trong sáng, tích cực đóng góp cho hòa bình chung của thế giới.[14] 

Thứ ba, về tư duy cân bằng giữa “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế”. Sự gia tăng phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể quan hệ quốc tế đã tạo ra thách thức cho việc cân bằng và giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách quốc gia. Tham gia vào toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng, chính sách đối ngoại Việt Nam sẽ không tránh khỏi bị tác động bởi các chủ thể khác. Tuy nhiên, việc phát triển năng lực tự chủ, tự cường, giảm mức độ dễ bị tổn thương, cùng với sự lựa chọn chính sách phù hợp trong tiến trình hội nhập sẽ giúp Việt Nam tiếp tục giữ vững tự chủ chiến lược.[15] Cụ thể, trong hoạch định chiến lược và chính sách, Đảng và Nhà nước cần xác định rõ sức mạnh quốc gia (nội lực) là nền tảng và là nhân tố quyết định, ưu tiên hàng đầu; ngoại lực là nhân tố quan trọng, phải được chú trọng tận dụng, kết hợp hiệu quả với nội lực. Đây là tinh thần bất biến mà ngoại giao Việt Nam cần vận dụng và phát huy linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng biến đổi mới. Cuối cùng, sáng tạo phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng đã đưa ra những nguyên tắc của chính sách đối ngoại Việt Nam và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại: bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật quốc tế; duy trì và củng cố hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.[16] 

2.3. Vận dụng phương châm ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay 

“Độc lập, tự chủ” là một trong những lợi ích vĩnh cửu của quốc gia - dân tộc, là nội hàm mang tính bất biến trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ.[17] Trong hoạch định chính sách đối ngoại, Đại hội XIII khẳng định nhân tố “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, từ đó xác định mục tiêu đối ngoại hàng đầu là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”.[18] Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi thực hiện “độc lập, tự chủ” về chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc “trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.[19][20] Từ thời kỳ Đổi mới, nội hàm lợi ích quốc gia - dân tộc được xác định là: chủ quyền; chế độ xã hội chủ nghĩa; môi trường quốc tế và khu vực; sự nghiệp đổi mới đất nước; an ninh - quốc phòng; văn hóa - xã hội. Đến Đại hội XIII, trong bối cảnh mới, một số thành tố quan trọng đã được bổ sung thêm: an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng.[21] Đây là các căn cứ quan trọng để xác định đối tác - đối tượng, hợp tác - đấu tranh trong đối ngoại nhằm ứng phó với diễn biến khu vực và quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Đối với Việt Nam, giữ vững độc lập, tự chủ thì mới có thể chủ động lựa chọn chiến lược, giải pháp phù hợp, từ đó hạn chế tác động tiêu cực, vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ, phát huy mặt tích cực, thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước. Đó cũng chính là nội hàm của “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”.[22] 

Đại hội XIII cũng đánh dấu lần đầu tiên văn kiện Đại hội Đảng xác định cụ thể vị trí, vai trò của hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.[23] Có thể khẳng định, đây là sự vận dụng đúng đắn và linh hoạt phương châm đối ngoại “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Báo cáo chính trị Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”.[24] Như vậy, cách thức “hội nhập quốc tế”, xác định các mặt hợp tác và đấu tranh, xác định đối tác và đối tượng là các yếu tố “vạn biến” trong hoạch định chính sách đối ngoại, luôn cần đối ngoại phải đi trước dẫn đường, tiên phong linh hoạt trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong từng bối cảnh cụ thể. Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Hoàn thiện và nhận thức sâu sắc hơn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”.[25]

Như vậy, “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế” có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, hoạch định chính sách đối ngoại cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”,[26] tức là “độc lập, tự chủ” giữ vai trò quyết định, là nền tảng vững chắc để hội nhập quốc tế; là cái “bất biến” chi phối cái “vạn biến” trong hoạch định chính sách đối ngoại. Kiên trì với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và có nhiều chính sách phù hợp, khôn khéo theo tinh thần “vạn biến”, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế”. Đối ngoại Việt Nam không chỉ khắc phục sự lệ thuộc, chống lại sự áp đặt, lôi kéo, chi phối mà còn nêu cao và phát huy tích cực tính chủ động trong tham gia vào các công việc chung của cộng đồng khu vực và quốc tế.[27] 

Vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được phát triển và hoàn thiện trong từng giai đoạn cụ thể và xuyên suốt tiến trình cách mạng của dân tộc. Trên cơ sở kế thừa và phát huy phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đến nay, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế”, đặc biệt là trong tư duy và hoạch định chính sách đối ngoại. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, việc quán triệt sâu sắc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nói chung và phương châm ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” nói riêng vào triển khai nhiệm vụ cân bằng mối quan hệ giữa “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế” có ý nghĩa then chốt đối với bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao hơn nữa vị thế đất nước trên trường quốc tế.[28] 

Hãy nhanh tay đăng ký tham dự Đối thoại Toàn cầu số 22: “Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc” để có cơ hội tìm hiểu những kiến thức bổ ích về chủ đề này nhé! 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

[1] Nguyễn Dy Niên. 2008. Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 

[2] Vũ Dương Huân. 2009. Vài suy nghĩ về trường phái ngoại giao Việt Nam. Nghiên cứu Quốc tế số 1 (76), 3/2009: 33-35. 

[3] Nguyễn Khánh An; “Chuyện kể về câu nói “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 31/5/1946”, ngày 31/5/2021, truy cập ngày 12/5/2023. 

https://baoquocte.vn/chuyen-ke-ve-cau-noi-di-bat-bien-ung-van-bien-cua-chu-tic h-ho-chi-minh-ngay-3151946-146838.html 

[4][5][14][16] Vũ Dương Huân. 2022. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và ngoại giao Việt Nam. Hà Nội: NXB Hồng Đức. 

[6] Nguyễn Hùng Hậu. 2011. Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 

[7] Lâm Thị Thu Việt; ““Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - Hạt ngọc trong tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh”, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa Khoa học cơ bản và Chính trị học. Truy cập ngày 10/5/2023. 

[8] “Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Trinidad & Tobago”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 2/2/2023, truy cập ngày 14/5/2023. 

https://baochinhphu.vn/viet-nam-thiet-lap-quan-he-ngoai-giao-voi-trinidad-tobago-102230202092830298.htm 

[9] “Toàn văn Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trình bày”, Bộ Nội vụ, ngày 20/1/2021, truy cập ngày 14/5/2023. 

https://www.moha.gov.vn/tin-noi-bat/toan-van-bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trun g-uong-khoa-xii-do-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-trinh-bay-45761.html 

[10][18][19][24] “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng, ngày 23/3/2021, truy cập ngày 9/5/2023. 

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-d ang/lan-thu-xiii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii -tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-3734 

[11] Nguyễn Thanh Thuỷ; “Phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, ngày 25/6/2021, truy cập ngày 14/5/2023. 

https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/35174/22/Phat-huy-tu-duy-doc-lap-tu-chu-sang-tao-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-trong-giai-doan-hien-nay.html 

[12] Trần Vi Dân; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ trong đối ngoại, đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, ngày 6/7/2021, truy cập ngày 14/5/2023. 

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2 018/823631/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-doc-lap%2C-tu-chu-trong-doi-ngoai%2C doan-ket-quoc-te-va-viec-van-dung-trong-tinh-hinh-hien-nay.aspx 

[13] Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; “Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, ngày 28/11/2013. 

[15][22][28] Nguyễn Văn Dương; “Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới”, ngày 14/11/2022, truy cập ngày 9/5/2023. 

http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/4605-moi-quan-he-giua-doc-lap-tu-chu-va-hoi-nhap-quoc-te-trong-thoi-ky-moi.html 

[17] Trần Vi Dân; “Lợi ích quốc gia-dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế”, Học viện chính trị Công an nhân dân, ngày 27/10/2020, truy cập ngày 14/5/2023. 

http://hvctcand.edu.vn/tin-tuc/tin-tuc-khac/loi-ich-quoc-gia-dan-toc-viet-nam-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-hoi-nhap-quoc-te-1802 

[20][21] Bùi Thanh Sơn; “Đường lối đối ngoại Đại hội Đảng XIII kế thừa, phát triển và hoàn thiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới”, ngày 29/11/2021, truy cập ngày 9/5/2023. 

https://dangcongsan.vn/thoi-su/duong-loi-doi-ngoai-dai-hoi-dang-xiii-ke-thua-phat-trien-va-hoan-thien-duong-loi-doi-ngoai-thoi-ky-doi-moi-598434.html 

[23] Đào Trang; “Những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế giai đoạn 5 năm (2021-2025)”, Cổng Thông tin Đảng bộ tỉnh Bình Thuận, ngày 18/5/2021, truy cập ngày 9/5/2023. 

https://truongchinhtri.binhthuan.dcs.vn/Tin-tuc/post/208477/nhung-diem-moi-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang-ve-hoat-dong-doi-ngoai-va-hoi-nhap-quoc-te-giai-doan-5-nam-20212025 

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I. 2021. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 

[26] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7. 2011. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.

[27] Nguyễn Xuân Trung; Nguyễn Thị Huyền Trang; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Điện tử Lý luận Chính trị, ngày 3/8/2022, truy cập ngày 9/5/2023. 

http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/4389-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-doi-ngoai-va-su-van-dung-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.html