PHẢN ỨNG NHANH - 2.1.2021

Một năm 2020 đầy biến động đã chính thức khép lại. Những ngày đầu năm 2021, Galileo Society xin trân trọng giới thiệu bài viết đầu tiên trong chuỗi bài tổng hợp và phân tích sự kiện 2020 đầy thú vị, hấp dẫn và giàu kiến thức bổ ích với chủ đề:

TRIỂN VỌNG TIẾN TRÌNH HÒA BÌNH TẠI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG GIỮA ISRAEL VÀ CÁC QUỐC GIA THUỘC KHỐI ARAB

Nếu như phải mất tới 15 năm (kể từ năm 1979 đến 1994) để Israel đạt được thỏa thuận hòa bình với chỉ hai quốc gia thuộc khối Arab là Ai Cập và Jordan thì riêng trong năm 2020, vỏn vẹn trong vòng 29 ngày (từ 13/8 đến 11/9), Israel đã có được 2 “cái gật đầu” bình thường hóa quan hệ của 2 quốc gia vùng Vịnh đó là Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) và Vương quốc Bahrain. Các thỏa thuận mang tên Hiệp ước Abraham [1] - đặt theo tên tổ phụ của người Do Thái và người Hồi giáo, là thỏa thuận đầu tiên sau 26 năm kể từ thời điểm Israel ký hiệp định hòa bình với Jordan vào năm 1994. Sự kiện này có thể xem là bước đột phá lớn nhất trong quan hệ giữa Israel với khối Arab và được giới phân tích cho rằng, đây là một chiến thắng lớn của quốc gia Do Thái khi dần phá được thế bị cô lập. Với vai trò trung gian kết hợp cùng sáng kiến hòa bình Trung Đông, chính quyền Tổng thống Donald Trump cũng đã nhận được nhiều phản ứng tích cực từ dư luận trong nước lẫn quốc tế [2]. Song, những chỉ trích về sáng kiến hòa bình của ông cùng với sự phản đối mối quan hệ ngày càng trở lên nồng ấm giữa Israel và một số quốc gia thuộc khối Arab đã đặt ra câu hỏi: Liệu tiến trình hòa bình này có thực sự bền vững và vấn đề cốt lõi trong xung đột giữa Palestine và Israel sẽ được giải quyết như thế nào? Để hiểu rõ hơn, ta sẽ cùng điểm qua những dấu mốc lịch sử quan trọng trong mối quan hệ đầy phức tạp của các quốc gia trong khu vực này.

Một lịch sử đầy biến động

Lịch sử nhà nước Israel hiện đại có nguồn gốc từ phong trào Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism), được thành lập vào cuối thế kỷ 19 tại Châu Âu [3]. Kể từ sau thảm họa diệt chủng Holocaust gây ra cái chết cho gần 6 triệu người [4], khát vọng về một nền độc lập trong một Tổ quốc người Do Thái là mục tiêu được các nhà lãnh đạo phái Zion luôn theo đuổi. Nhưng nỗ lực này ngay từ đầu đã vấp phải sự phản đối kịch liệt đến từ các quốc gia Arab bằng một cuộc chiến tranh vào năm 1948 sau khi người Do Thái tuyên bố thành lập Nhà nước của riêng mình [5]. Trong những năm tiếp theo, dưới ảnh hưởng của Chiến tranh lạnh, cục diện trở lên căng thẳng khi cả Liên Xô lẫn Hoa Kỳ đều tích cực gia tăng ảnh hưởng tại khu vực. Đỉnh điểm của giai đoạn này là cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956 tại Ai Cập. Quốc hữu hóa kênh đào cùng với việc tổng thống Abdel Nasser ra lệnh cho hải quân phong tỏa eo biển Tiran - con đường duy nhất của Israel hướng ra Biển Đỏ đã khiến hai bên xảy ra xung đột quân sự [6]. Khủng hoảng chỉ kết thúc dưới áp lực của Mỹ và Liên Xô cùng với sự can dự của Lực lượng Khẩn cấp Liên Hiệp Quốc (UNEF) [7]. Những năm tiếp theo đánh dấu một sự kiện quan trọng khi Tổ chức Giải phóng Palestine PLO ra đời (1964) với nòng cốt là lực lượng Fatah do Yasser Arafat lãnh đạo. Trụ sở của PLO ban đầu đặt ở Jordan, nhưng do mâu thuẫn với Vua Hussein mà sau đó PLO bị trục xuất và phải chuyển sang Li-băng [8]. Biến cố lại tiếp tục xảy ra vào năm 1967 khi Ai Cập trục xuất Lực lượng Khẩn cấp của Liên Hiệp Quốc (UNEF) khỏi Bán đảo Sinai, chiếm lại dải Gaza và phong tỏa cảng Aqaba khi đó thuộc về Israel. Chiến tranh sáu ngày sau đó bùng nổ [9]. Trong cuộc chiến, Israel đã giành ưu thế nhờ chủ động tấn công, họ đánh bại Jordan và chiếm Bờ Tây (West Bank), đánh bại Ai Cập và chiếm Dải Gaza cùng Bán đảo Sinai, đánh bại Syria và chiếm Cao nguyên Golan [10]. Cuộc chiến kết thúc tháng 6/1967 theo các thỏa thuận ngừng bắn do Liên Hợp Quốc thu xếp. Để trả đũa cho thất bại này, ngày 6/10/1973, đúng dịp lễ Chuộc Tội Yom Kippur – ngày lễ linh thiêng nhất của người Do Thái, Ai Cập và Syria bất ngờ tấn công Israel, khiến nước này phải chịu một thất bại tạm thời. Nhưng không lâu sau đó, ưu thế dần chuyển sang phía Israel và phe tấn công bị đẩy lùi [11]. Tháng 10/1973, hai bên ngừng bắn và Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp Quốc tiến vào khu vực [12]. Kể từ những năm 80 trở về sau, xung đột quân sự vẫn tiếp tục gia tăng, tổ chức PLO và nhóm Hezbollah tại Li-băng liên tục tấn công rocket và pháo kích vào miền bắc Israel [13], các phong trào Intifada của người Palestine chống lại người Do Thái được hưởng ứng rộng rãi [14], xung đột đẫm máu tại dải Gaza giữa nhóm cực đoan Hamas và Israel liên tục tiếp diễn trong các năm 2008, 2012 và 2014 [15]. Các tranh chấp ngày nay liên quan đến thánh địa Jerusalem, các khu tái định cư của người Do Thái ở Bờ Tây hay sự bất ổn ở Dải Gaza là những mâu thuẫn cốt lõi khó có thể giải quyết triệt để. Nhìn lại lịch sử đầy bất ổn của khu vực phần nào lý giải cho ta thấy tính chất khó hàn gắn trong mối quan hệ giữa hai nhóm dân tộc trong hai nền tôn giáo khác biệt.

Những nỗ lực hàn gắn ban đầu

Là quốc gia trực tiếp đối đầu với Israel ở hầu hết các cuộc xung đột đẫm máu trong quá khứ nhưng chính Ai Cập lại là quốc gia đầu tiên trong Liên đoàn Arab tiên phong trong nỗ lực công nhận nhà nước Israel. Chuyến thăm của Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat tới Jerusalem vào năm 1977 đã chấm dứt 30 năm thù địch giữa hai cựu thù. Sau Hiệp ước Trại David năm 1978, Israel và Ai Cập đã ký kết một hiệp ước hòa bình vào tháng 3 năm 1979 dưới sự làm chứng của Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter [16]. Liên đoàn Arab đã phản ứng hiệp ước hòa bình bằng cách tạm ngưng quy chế thành viên của Ai Cập trong tổ chức này và rời trụ sở của nó từ Cairo tới Tunis [17]. Tiếp bước Ai Cập, ngày 26/10/1994, dưới sự chứng kiến của Tổng thống Mỹ Bill Clinton, Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin và Quốc vương Jordan Hussein ký tuyên bố mở đường cho một thỏa thuận hòa bình giữa hai dân tộc [18]. Tuy vậy, sự kiện nổi bật nhất đánh dấu những cố gắng trong nỗ lực xây đắp một nền hòa bình và ổn định trong khu vực lại đến từ Hòa ước Oslo lịch sử giữa Israel và Palestine. Tiến trình Oslo bắt đầu sau các cuộc đàm phán bí mật ở Na Uy trên tinh thần PLO thừa nhận quyền tồn tại của Israel và ngược lại phía Israel quyết định công nhận PLO như là đại diện của nhân dân Palestine. Ngày 13/9/1993, tại Nhà Trắng, Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin và Chủ tịch PLO Yasser Arafat đã ký kết Hiệp định hòa bình Oslo trước sự làm chứng của tổng thống Bill Clinton [19]. Hiệp định này khởi đầu cho cả một quá trình gọi là “tiến trình hòa bình Trung Đông” tiếp nối bởi các hiệp định Oslo II (tháng 9-1995), Wye River (tháng 10-1998)... Việc ký kết thành công hiệp định đã giúp nhà lãnh đạo Yasser Arafat, Thủ tướng Yitzhak Rabin và Bộ trưởng Ngoại giao Israel Shimon Peres được trao giải Nobel Hòa bình [20]. Cho tới nay, Hiệp ước Oslo vẫn là thoả thuận hoà bình duy nhất giữa Palestine và Israel. Nhưng đáng tiếc là Hiệp định này đã bị “chôn sống” khi không còn phát huy hiệu quả ở bối cảnh hiện tại [21]. Vào năm 2003, Tổng thống Mỹ George W. Bush đề xuất sáng kiến Lộ trình Hòa bình khu vực Trung Đông (Roadmap for peace) nhưng ý tưởng đã bế tắc ngay từ giai đoạn đầu [22].Để đạt được những cái bắt tay lịch sử, các quốc gia đã phải mất tới hàng chục năm trời, thậm chí còn phải đánh đổi bằng cả sinh mạng như trường hợp của Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat hay Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin. Những thành tựu đạt được trong vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa Israel và khối Arab thực tế vẫn còn hết sức khiêm tốn. Điều đó cho thấy bản chất khốc liệt của một vấn đề mà tưởng chừng như người ta sẽ dễ dàng ủng hộ, đó là “Tìm kiếm hòa bình”.

Trump và nút gỡ trong các mối quan hệ tại Trung Đông

Ngay sau khi bước chân vào Nhà Trắng, Tổng thống Donald Trump đã gây ra nhiều chỉ trích trong các phát ngôn lẫn lẫn hành động liên quan tới khu vực Trung Đông. Có thể kể đến như việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel (6/12/2017) [23], chuyển đại sứ quán Hoa Kỳ đến Jerusalem (14/5/2018) [24], công nhận Cao nguyên Golan là của quốc gia Do Thái (26/3/2019) [25] hay ủng hộ Israel xây dựng các khu tái định cư ở Bờ Tây (18/11/2019) [26] đều là những hành động gây tranh cãi thậm chí là châm ngòi cho các cuộc xung đột. Đáng chú ý là vào ngày 28/01/2020, Tổng thống Trump công bố một kế hoạch hòa bình Trung Đông - bản kế hoạch 80 trang với mấu chốt trong đó đề xuất giải pháp “hai nhà nước” cho cuộc xung đột dai dẳng nhiều thập niên qua giữa Israel và Palestine. Tổng thống Mỹ khẳng định đề xuất trên là “thỏa thuận thế kỷ”, là “cơ hội lịch sử” để Palestine thành lập được nhà nước độc lập [27]. Tuy nhiên kế hoạch Hòa bình Trung Đông bị chỉ trích là thiên vị Israel và là trái đắng cho người Palestine khi họ đang bị dồn vào chân tường và thỏa thuận thế kỷ giống dự thảo đầu hàng hơn là một thỏa thuận bình đẳng [28]. Điều khó hiểu ở đây là tại sao một mặt, ông Trump muốn thúc đẩy sáng kiến hòa bình ở Trung Đông, mặt khác lại gây ra những mâu thuẫn như việc công nhận Jerusalem và Cao nguyên Golan là của Israel? Sự khó hiểu này khiến giới truyền thông lẫn giới chuyên gia chỉ trích sáng kiến của ông là không những không đem lại hiệu quả mà còn làm gia tăng mâu thuẫn, căng thẳng trong khu vực. Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif đã gọi Kế hoạch hòa bình Trung Đông của Tổng thống Mỹ là 'ảo tưởng' và ‘lừa đảo’ [29]. Thực tế cho thấy, tầm nhìn của Nhà Trắng về khu vực  có phần phớt lờ lợi ích của người Palestine. Ông Trump đã mời người Palestine vào bàn đàm phán, nhưng chỉ với tầm nhìn về một Trung Đông nghiêng hẳn về Israel. Nếu người Palestine không muốn tham gia, Nhà Trắng dường như rất thoải mái để họ ở lại [30]. Nhưng khẳng định sáng kiến hòa bình chỉ là ‘ảo tưởng’ thì liệu có đúng hay không khi trên thực tế, chỉ trong vòng 4 tháng cuối năm 2020, với vai trò trung gian của chính quyền Mỹ thì có tới 4 quốc gia Arab đã đạt được thỏa thuận về bình thường hóa quan hệ với chính quyền Tel Aviv và con số này được dự đoán là sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới. Lễ ký kết đầu tiên được tổ chức vào ngày 15/9/2020 giữa các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Bahrain và Israel trước sự chứng kiến của Tổng thống Donald Trump [31]. Trong lễ ký kết, ông Trump khẳng định: “Chúng ta ở đây để thay đổi tiến trình lịch sử. Sau nhiều thập kỷ chia rẽ và xung đột, chúng ta đánh dấu một bình minh của Trung Đông mới” [32]. Giới chuyên gia nhận định động thái bình thường hóa quan hệ của UAE và Bahrain chắc chắn đã được Ả-Rập Xê-út “bật đèn xanh”. Và điều đó cho thấy sẽ còn nhiều thành viên khác trong Liên đoàn Arab sẵn sàng tham gia quá trình hòa giải này. Ông Trump cũng tuyên bố trong lễ ký kết: "Chúng tôi đang trong lộ trình với thêm khoảng 5 quốc gia. Chúng tôi sẽ sớm có ít nhất 5 hoặc 6 nước đồng hành, chúng tôi đã đang thảo luận với họ" [33]. Tuyên bố đó của ông Trump càng được củng cố sau khi Sudan và Morocco lần lượt trở thành quốc gia Arab thứ ba và tư nhất trí nối lại quan hệ với nhà nước Do Thái. Hôm 23/10, Tổng thống Trump thông báo Sudan và Israel đã nhất trí bình thường hóa quan hệ. Quyết định trên được đưa ra sau khi Mỹ chính thức đưa Sudan ra khỏi danh sách các nước tài trợ khủng bố [34]. Trong khi đó, Palestine ngay lập tức phản đối thỏa thuận bình thường hóa quan hệ Israel - Sudan. Văn phòng Tổng thống Palestine ra tuyên bố lên án và bác bỏ bản thỏa thuận “ phản bội sự nghiệp của người Palestine”. Phong trào Hamas ở dải Gaza cũng chỉ trích bước đi của Sudan là sai hướng [35]. Còn trong ngày 10/12, ông Trump thông báo Israel và Morocco nhất trí bình thường hóa quan hệ. Tổng thống Trump nêu rõ: "Một bước đột phá lịch sử khác ngày hôm nay! Hai người bạn tuyệt vời của chúng ta là Israel và Vương quốc Maroc đã đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ - một bước đột phá to lớn cho hòa bình ở Trung Đông" [36]. Trong một dòng tweet, ông viết tiếp: "Hôm nay, tôi đã ký một tuyên bố công nhận chủ quyền của Morocco đối với Tây Sahara.... Morocco công nhận Hoa Kỳ vào năm 1777. Vì thế, việc chúng tôi công nhận chủ quyền của họ đối với Tây Sahara là quyết định phù hợp" [37]. Cho đến nay, đã có 6/22 thành viên của Liên đoàn Arab công nhận sự tồn tại của Israel và nỗ lực tìm kiếm hòa bình cho đến hiện tại vẫn chưa kết thúc. Một quốc gia vùng Vịnh khác là Oman đã ca ngợi thỏa thuận giữa Israel và Bahrain, báo hiệu họ có thể là đối tượng tiếp theo bình thường hóa quan hệ với nhà nước Do Thái [38]. Song, cần phải nói rằng những nỗ lực tìm kiếm hòa bình vừa qua là bước đi trái với tinh thần của Sáng kiến Hòa bình Arab ký năm 2002, trong đó quy định các quốc gia Arab chỉ có thể bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Israel sau khi Tel Aviv chấm dứt chiếm đóng quân sự tại các vùng lãnh thổ của Palestine và các nước Arab, cũng như người dân Palestine được hưởng nền hòa bình [39]. Đây có lẽ là lý do khiến Ả-Rập Xê-út còn chần chừ trong việc cải thiện quan hệ với Israel dù Riyadh đã cho phép máy bay của Tel Aviv bay qua không phận mình hồi tháng 9. Chính quyền của Thái tử Mohammed bin Salman luôn thận trọng, lo ngại sự phản đối từ cộng đồng Hồi giáo bảo thủ ủng hộ Palestine. Thêm vào đó, Riyadh từng đánh tín hiệu rằng sẽ chỉ bình thường hóa quan hệ với Tel Aviv khi có thỏa thuận hòa bình Israel-Palestine và đảo ngược cam kết là nước đi mạo hiểm. Tuy vấp phải sự phản đối mạnh mẽ đến từ Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran nhưng các thỏa thuận trong thời gian qua vẫn nhận được nhiều sự ủng hộ và phản ứng tích cực đến từ các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu  và các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc.

Động lực nào khiến các nhà lãnh đạo thúc đẩy tiến trình hòa bình

Trong nhiều thập kỷ, Washington là nhà trung gian hòa bình chính ở Trung Đông và là bên điều tiết quan trọng trong các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine. Trong khi Tổng thống Jimmy Carter là người kết nối Thủ tướng Israel Menachem Begin và Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat thì Tổng thống Bill Clinton lại kết nối Thủ tướng Yitzhak Rabin và Quốc vương Hussein. Còn hiện tại, Tổng thống Donald Trump là người đứng giữa Netanyahu và các bộ trưởng ngoại giao của các quốc gia Arab. Các nhà phân tích nhận định, cả Mỹ và Israel đều có mục đích chính trị trước các thỏa thuận lịch sử này.

Về phía Tổng thống Donald Trump, ông đang cố gắng hiện thực hóa tầm nhìn về khu vực Trung Đông mà ông đã từng ấp ủ. Ngoài ra, các kết quả tích cực trong nỗ lực tìm kiếm hòa bình tại Trung Đông trước tháng 11 sẽ giúp cho ông Trump giành được cảm tình từ các cử tri người Do Thái trong cuộc Bầu cử Tổng thống Mỹ. Cho đến nay, ông Trump đã 3 lần nhận được đề cử cho giải Nobel Hòa bình [40]. Tờ Foreign Policy nhận định ông Trump thành công với Trung Đông vì ông là Tổng thống duy nhất có thể bác bỏ những giả định và chiến lược sai lầm. Chính quyền của ông đã theo đuổi một chính sách Trung Đông thành công. Chính sách này thành công vì đã thách thức những giả định thâm căn cố đế [41]. Và do đó, khi những tranh cãi xoay quanh cuộc bầu cử tổng thống Mỹ kết thúc, ông Trump sẽ chuyển giao cho ông Biden một khu vực Trung Đông ổn định hơn và một mạng lưới đồng minh mạnh hơn cách đây 4 năm. Đây là một di sản đáng giá mà phe Dân chủ cần trân trọng.

Còn đối với Israel, thỏa thuận là một thành tựu chính sách đối ngoại quan trọng với Thủ tướng Benjamin Netanyahu, một thành tựu mà chỉ có hai nhà lãnh đạo Israel khác có thể đạt được: Thủ tướng Menachem Begin ký hiệp ước hòa bình với Ai Cập năm 1979; và Thủ tướng Yitzhak Rabin ký hiệp ước hòa bình với Jordan năm 1994. Trong khi đó, ông Netanyahu đã ký thỏa thuận bình thường hóa với hai quốc gia Arab chỉ trong một ngày. Điều quan trọng nữa là sự kiện tại Nhà Trắng còn giúp Netanyahu hướng sự chú ý ra khỏi các rắc rối lùm xùm trong nước liên quan tới nền kinh tế “bầm dập” trong đại dịch COVID-19 hay các cáo buộc tham nhũng, gian lận và lạm dụng tín nhiệm dính líu đến ông [42].

Lời kết

Nhìn lại tiến trình từ khi Kế hoạch hòa bình Trung Đông được đề xuất đến cho khi sáng kiến này được thực hiện, có nhận xét cho rằng việc không giải quyết được vấn đề cốt lõi giữa Israel và Palestine khiến các hiệp ước mới thực tế không tạo ra hòa bình trong khu vực Trung Đông mà chỉ đơn thuần là giúp bình thường hóa quan hệ giữa một vài quốc gia trong khu vực. Điều này trái ngược với phát biểu vui mừng về việc đạt được mục tiêu “lấy hòa bình đổi hòa bình” của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Tuy nhiên, kể từ sau làn sóng “Mùa xuân Arab”, các nước Arab đều có nhu cầu tiến hành cải cách kinh tế và điều chỉnh chính sách đối ngoại để duy trì ổn định chính trị - xã hội trong nước. Do giá dầu sụt giảm và tác động tiêu cực của dịch Covid-19, nhu cầu cải cách kinh tế càng cấp thiết hơn. Do đó, cộng đồng Arab vùng Vịnh ưu tiên giải quyết những vấn đề mà khối này đang đối mặt, hơn là quan tâm các vấn đề vĩ mô của thế giới Arab [43]. Bên cạnh đó, một động cơ khác thôi thúc các nước đẩy nhanh tiến trình bình thường hóa quan hệ với Israel bắt nguồn từ vai trò và vị thế ngày càng gia tăng của Iran ở Trung Đông trong bối cảnh Mỹ ngày càng giảm can dự trực tiếp tại khu vực. Việc một số quốc gia Arab đồng ý bình thường hóa quan hệ với Israel cho thấy xu hướng hòa giải trong khu vực đang tăng dần. Tuy nhiên, chỉ khi Mỹ và Israel đưa ra phương án giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề Palestine - Israel, thì cơ hội tái định hình khu vực Trung Đông theo hướng hòa bình mới có thể đạt được.

Xem toàn bộ bài viết và tài liệu tham khảo tại: https://drive.google.com/.../1fMdngMTKP-FI3Z74.../view...

Đừng quên theo dõi Galileo Society để tiếp tục cập nhật các bài viết bổ ích trong chuỗi bài tổng kết năm 2020 nhé!