Hướng đến kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Ngoại giao Việt Nam (28/8/1945 - 28/8/2025), Galileo Society - Hội Sinh viên Nghiên cứu khoa học, Học viện Ngoại giao trân trọng giới thiệu chuyên mục “Phỏng vấn Cán bộ Ngoại giao” - một hành trình đặc biệt nhằm kết nối các thế hệ Cán bộ Ngoại giao từ quá khứ đến hiện tại và truyền lửa cho tương lai.

Chuyên mục được thực hiện với mong muốn tôn vinh những đóng góp to lớn của các thế hệ Cán bộ Ngoại giao đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành Ngoại giao nói riêng. Thông qua những câu chuyện, trải nghiệm được chia sẻ từ chính các nhà Ngoại giao kỳ cựu, chuyên mục hướng tới việc truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, định hướng nghề nghiệp rõ ràng hơn cho những ai đang ấp ủ ước mơ trở thành sinh viên Học viện Ngoại giao hay theo đuổi con đường đối ngoại.

Trong số đầu tiên, Galileo Society vinh dự được trò chuyện cùng Đại sứ Nguyễn Phương Nga - nữ Thứ trưởng đầu tiên của Bộ Ngoại giao. Với hơn 30 năm kinh nghiệm công tác trong Ngành, những chia sẻ từ Cô không chỉ là những kinh nghiệm, bài học quý báu đối với mỗi sinh viên mà còn hàm chứa những thông điệp chân thành và gần gũi. Hãy đón đọc bài viết lần này cùng Galileo Society nhé!

1 Chặng đường làm đối ngoại

1.1 Thưa cô, nhìn lại chặng đường hơn 30 năm làm đối ngoại, đâu là những kỷ niệm đáng nhớ nhất với cô khi công tác trong ngành?

Nói về kỷ niệm thì cô có rất nhiều. Mỗi một chặng đường công tác đều để lại những dấu ấn riêng, gắn liền với quá trình trưởng thành của bản thân. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp của lãnh đạo, những người thủ trưởng đồng thời cũng là những người thầy. Bản thân cô thuộc về một thế hệ rất may mắn - thế hệ sinh ra trong chiến tranh, được trải qua những năm tháng khó khăn của đất nước, thấu hiểu rằng để có được hòa bình, độc lập, tự do phải hy sinh lớn lao như thế nào, hay chứng kiến cha mẹ, ông bà cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau này, cô có cơ hội học tập, được cử đi đào tạo ở nước ngoài, rồi trở về làm việc và cống hiến trong đúng lĩnh vực mà mình gắn bó; tức là được làm những việc mà mình học. Sau đó, Việt Nam bước vào công cuộc Đổi mới, đất nước “thay da đổi thịt”, đường lối đối ngoại và công cuộc hội nhập quốc tế đạt được nhiều thành tựu. Những kỷ niệm của cô gắn chặt với các cột mốc của đất nước.

Khi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Thái Lan, cô đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, từ xây dựng quan hệ với phóng viên báo chí Thái Lan và phóng viên quốc tế tại đây, đến tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ cộng đồng kiều bào. Cộng đồng người Việt tại Thái Lan rất đông đảo, giàu truyền thống cách mạng và luôn gắn bó với quê hương. Ngoài ra, cô cũng có nhiều kỉ niệm đáng nhớ khi lần đầu tổ chức Ngày Việt Nam tại Vương quốc Bỉ và Luxembourg. Sau này, khi công tác tại Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc (LHQ) thì có những lần cô tham gia vận động để Việt Nam gia nhập các tổ chức của LHQ cũng như ứng cử vào các cơ quan quan trọng của tổ chức này.

Mỗi vị trí công tác đều mang đến những bài học mới, không chỉ theo từng nhiệm kỳ mà thậm chí mỗi ngày đều có điều mới mẻ để học hỏi. Ở Bỉ và Luxembourg, công việc vừa mang tính song phương vừa đa phương, vì cùng lúc phải thúc đẩy quan hệ với các đối tác của Bỉ, đồng thời duy trì và phát triển quan hệ giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu cũng như từng nước thành viên. Còn tại LHQ, nhiệm vụ hoàn toàn nằm trong bối cảnh đa phương, khi Việt Nam làm việc trong khuôn khổ một diễn đàn có 193 quốc gia thành viên, thông qua Ban Thư ký LHQ. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động đa phương, vẫn có những tương tác song phương với từng quốc gia thành viên và các diễn đàn đa phương liên quan. Vì vậy, phạm vi công việc và phạm vi tương tác tại LHQ rộng hơn nhiều so với thời gian cô công tác tại Bỉ và Luxembourg.

2 Thưa cô, điều gì đã thôi thúc cô lựa chọn gắn bó với ngành Ngoại giao? Đặc biệt, là người được tiếp xúc sớm với nghề ngoại giao qua truyền thống gia đình, cô cảm thấy công việc này so với hình dung trước đó của cô có khác nhau không?

Cô sinh ra trong một gia đình có sự gắn bó nhất định với ngành Ngoại giao, bởi cả bố và mẹ đều công tác trong ngành. Ngay từ nhỏ, cô cũng đã có sự quan tâm, được tiếp cận với nhiều thông tin về hoạt động đối ngoại và thời sự quốc tế. Trong tủ sách của ông ngoại cô có rất nhiều sách tiếng Nga, cô thường xuyên đọc truyện về bà đại sứ Alexandra Kollontaï - một nhà Ngoại giao mà cô vô cùng ngưỡng mộ. Có lẽ chính vì thế nên khi tốt nghiệp phổ thông, cô có chọn nguyện vọng là thi vào Đại học Ngoại giao.

Hồi đó, cô hiểu về ngành ngoại giao theo một cách khá đơn giản – đó là công việc đấu tranh cho lợi ích đất nước trong quan hệ đối ngoại. Khi đọc về bà Kollontaï, cô tìm hiểu cách nước Nga Xô-viết thiết lập quan hệ ngoại giao, nỗ lực duy trì hòa bình với các quốc gia láng giềng. Cô cũng quan tâm đến đàm phán Hiệp định Paris của Việt Nam hay những hoạt động của Đại sứ quán khi bố cô được cử sang Nhật Bản làm Đại sứ. Cô thấy ngoại giao là một nghề thú vị, vì có điều kiện tiếp xúc bên ngoài, vừa góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa các nước, vừa có cơ hội để giao lưu, học hỏi, biết thêm nhiều điều.

Tuy nhiên bây giờ nhìn lại thì cô nghĩ rằng thực tế có nhiều khác biệt so với những gì mình hình dung. Khi cô lựa chọn nguyện vọng 1 là Ngoại giao, bố cô ở Nhật đã viết thư khuyên rằng “con phải suy nghĩ thật kỹ vì nghề Ngoại giao là một nghề rất vất vả, không đơn giản chỉ có đi chiêu đãi hay ăn mặc đẹp, lên xe xuống ngựa”. Cô sớm cảm nhận được sự vất vả ấy, bởi dù sinh ra trong một gia đình làm Ngoại giao, bọn cô hiếm khi được ở gần bố mẹ. Bởi vì bố mẹ đi công tác nước ngoài, mấy chị em ở nhà trông nhau, đôi khi nuôi nhau, đấy là cái thiệt thòi nhất.

3 Các cột mốc trong sự nghiệp

3.1 Trên cương vị là người phát ngôn của Bộ Ngoại giao, cô phải đối mặt với giới truyền thông báo chí rất nhiều. Làm thế nào cô có thể cân bằng giữa việc đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc và sự chân thành trong thông điệp mà mình truyền tải đến với công chúng ạ?

Công tác thông tin đối ngoại (TTĐN) là một bộ phận của công tác đối ngoại, nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của công tác đấu tranh chính trị, tư tưởng. Đây là kênh đưa thông tin của Việt Nam ra với công chúng, nhân dân trong nước, đến dư luận và bạn bè quốc tế. Chỉ có qua thông tin đối ngoại thì người ta mới hiểu được những gì đang diễn ra tại Việt Nam. TTĐN hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động ngoại giao, từ việc thiết lập quan hệ với các nước tới việc duy trì và phát triển quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác. Đồng thời, đây cũng là cầu nối để tiếp nhận tinh hoa văn hóa từ thế giới.

Trong công tác TTĐN, nhiệm vụ phát ngôn và thông tin báo chí đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thông điệp của Người phát ngôn trước hết phải xuất phát từ sự thật, đó chính là quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Dù ở cương vị nào – nhà ngoại giao hay người phát ngôn – thì nhiệm vụ vẫn là đại diện cho lợi ích quốc gia, cho hình ảnh của đất nước, nhưng đồng thời cũng cần tìm cách để cộng đồng quốc tế và nhân dân các nước thấu hiểu, yêu mến và ủng hộ Việt Nam. Vì vậy, mỗi hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi một cách truyền tải phù hợp, nhưng điều cốt lõi vẫn là kiên định bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên định bảo vệ sự thật và chính nghĩa, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và chính giới quốc tế. Đấy chính là trọng trách của một Người phát ngôn.

3.2 Kinh nghiệm ở vai trò Người phát ngôn đã giúp cô hoàn thành tốt công tác sau này ở Liên hợp quốc như thế nào ạ?

Cô nghĩ là cô cũng rất may mắn khi được làm ở Vụ Thông tin báo chí với cương vị Người phát ngôn trước khi làm Đại sứ tại LHQ. Đặc thù của công tác thông tin báo chí là mình được tiếp cận và phải xử lý được nhiều thông tin về các lĩnh vực khác nhau. Kiến thức về đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội mình có thể không sâu, nhưng mình phải biết mỗi thứ một ít. Ở nhiệm vụ người phát ngôn, cô đã có cơ hội tiếp nhận, phân tích, và xử lý thông tin một cách nhanh chóng. Ở môi trường đa phương như LHQ, việc phải phát biểu và tham dự các sự kiện là câu chuyện thường xuyên, nên mình cũng cảm thấy có phần nào đó tự tin hơn, quen hơn khi đứng trước các diễn đàn. Tất nhiên là thách thức, thử thách đứng trước phóng viên cũng khác với việc đứng trước cử tọa là đại diện của các quốc gia, nên đó cũng là một áp lực khác mình phải rèn luyện.

3.3 Từ năm 2013 - 2018 với vai trò là Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, cô cùng Liên hiệp đã có nhiều hoạt động nổi bật, tích cực trong công tác đối ngoại nhân dân (ĐNND), góp phần phát huy vai trò trụ cột của ĐNND trong nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam. Thưa cô, cô có thể chia sẻ những điều cô tâm đắc nhất trong công việc này, và những khó khăn khi phải thích ứng ở một vị trí công tác mới so với trải nghiệm trước đó?

Đối ngoại nhân dân là một bộ phận quan trọng của đối ngoại. Vì vậy, khi đã có kinh nghiệm làm đối ngoại nhà nước, cô nhận thấy việc chuyển sang công tác ĐNND trở nên thuận lợi hơn. Điểm đặc thù của ĐNND tại Việt Nam là mạng lưới quan hệ rộng rãi với các tổ chức nhân dân trên thế giới. Đây là lợi thế được xây dựng trên nền tảng lịch sử hào hùng của phong trào nhân dân quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.

Trong bối cảnh hiện nay, đối ngoại nhân dân không hoạt động tách biệt mà cần phối hợp với các kênh khác, vì đối tượng và đối tác của công tác này rất đa dạng, đại diện cho nhiều luồng tư tưởng và quan điểm khác nhau. Thách thức đặt ra là làm sao để dung hòa những khác biệt, tìm được tiếng nói chung trên cơ sở mục tiêu phát triển quan hệ đối tác, củng cố tình đoàn kết và hữu nghị. Đây chính là điểm hấp dẫn của đối ngoại nhân dân.

Nếu đối ngoại nhà nước tập trung vào quan hệ giữa các quốc gia thì ĐNND lại gắn liền với con người, chính con người cũng là nền tảng tạo nên mối quan hệ giữa các quốc gia. Đặc trưng của đối ngoại nhân dân là sự gần gũi, hòa đồng hơn, tính chính thức được giảm bớt và sự khác biệt về cương vị cũng ít đi. Vì vậy, điều quan trọng là xuất phát từ tình cảm yêu quý, sự trân trọng, biết ơn những tổ chức và cá nhân đã có đóng góp cho Việt Nam, giữ gìn và phát huy tình cảm, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Khi làm được điều đó, họ sẽ tiếp tục gắn bó với Việt Nam, lan tỏa tình cảm ấy đến với nhiều người hơn. Với cách tiếp cận như vậy, đối ngoại nhân dân không có gì là quá khó khăn.

3.4 Trong số các cuộc đàm phán quốc tế mà Việt Nam tham gia, đâu là kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với cô? Theo cô, một nhà ngoại giao có bắt buộc phải giỏi đàm phán không ạ?

Cô không tham gia nhiều vào các cuộc đàm phán lớn, nhưng nếu nói về kỉ niệm đáng nhớ thì là lần đàm phán Hiệp ước Cấm vũ khí hạt nhân. Khi đó, cô được giao nhiệm vụ làm Trưởng đoàn đại diện Việt Nam tại Liên hợp quốc. Trong số 193 quốc gia thành viên, 69 nước gồm các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, các quốc gia ly khai và một số quốc gia khác đã tẩy chay đàm phán. Tuy nhiên, 124 quốc gia còn lại vẫn kiên trì tham gia. Cuối cùng, Hiệp ước được Đại hội đồng thông qua với 122 quốc gia nhất trí. Đó là một nỗ lực ngoại giao rất lớn, phản ánh khát vọng chung của nhân loại về một thế giới hòa bình và phi hạt nhân. Tiến trình đàm phán kéo dài ba tuần, diễn ra trong không khí căng thẳng, gay cấn và cũng đầy cam go và khốc liệt. Đáng nói tiếp là lần đàm phán về Chương trình Nghị sự 2030 về mục tiêu phát triển bền vững của LHQ vào năm 2015. Vấn đề đàm phán bao trùm như vậy đòi hỏi rất nhiều thời gian, nhiều thách thức liên quan đến ưu đãi dành cho các nước đang phát triển. Có nhiều hôm các bạn trong phái đoàn cũng phải đàm phán thâu đêm để tìm được tiếng nói chung. Đó là các kỷ niệm mà cô nghĩ là cô sẽ không quên.

Thực tế, Ngoại giao chính là đàm phán, cho nên là nhà Ngoại giao thì không thể không biết đàm phán. Muốn làm nhà Ngoại giao giỏi thì phải biết đàm phán, còn thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố và hoàn cảnh cụ thể. Cô không nghĩ là có nhà Ngoại giao nào lại tự nhận mình là một người đàm phán giỏi, bởi vì anh có thể giỏi lúc này chứ lúc khác chưa chắc đã giỏi. Đàm phán là kỹ năng không thể chỉ học qua lý thuyết. Ngày nay, các bạn trẻ có điều kiện được học về đàm phán từ sớm, nhưng kinh nghiệm thực tế mới là điều quan trọng nhất. Chỉ khi trải qua nhiều lần đàm phán, rút kinh nghiệm từ mỗi lần tham gia, học liên tục, học không ngừng, học qua từng trường hợp, qua từng tiến trình thì cô nghĩ là sẽ trở thành những nhà đàm phán có kinh nghiệm.

3.5 Thưa cô, là một trong những nữ lãnh đạo đầu tiên của ngành Ngoại giao, cô nhận thấy địa vị của nữ giới trong ngành khi cô bắt đầu sự nghiệp so với thời điểm hiện tại đã có gì thay đổi? Bản thân người phụ nữ có những lợi thế gì khi làm công tác đối ngoại?

Cô cho rằng vấn đề bình đẳng giới trong Bộ Ngoại giao hiện nay không còn là một vấn đề quá lớn, bởi đã có những bước tiến đáng kể. Khi cô mới về Bộ không có Thứ trưởng nữ, số lượng Vụ trưởng nữ cũng rất ít. Khi cô được bổ nhiệm làm Thứ trưởng, trong Bộ chỉ có ba Vụ trưởng nữ. Còn hiện tại, đã có hai Thứ trưởng là nữ, dù xét về số lượng, tỷ lệ nữ vẫn thấp hơn nam giới. Tuy nhiên, cũng không thể đặt ra yêu cầu phải cân bằng 50/50, bởi bình đẳng giới không chỉ nằm ở con số mà còn ở cơ hội và điều kiện phát triển.

Vấn đề bình đẳng giới ở đây có hai góc độ: Thứ nhất là chính sách và sự quan tâm trong việc bồi dưỡng, tạo cơ hội bình đẳng để cán bộ nữ thể hiện năng lực. Thứ hai là bản thân phụ nữ cũng cần có khát khao cống hiến, dám dấn thân và sẵn sàng hy sinh những cái đời thường.

Thực tế, phụ nữ có nhiều thế mạnh khi làm công tác đối ngoại. Họ nhạy cảm, tinh tế, có khả năng quan sát và thấu hiểu con người, điều này giúp ích rất nhiều trong các cuộc đàm phán và thiết lập quan hệ. Phụ nữ cũng rất tận tâm, một khi đã quyết tâm làm gì thì sẽ cố gắng hết sức. Họ mềm dẻo nhưng cũng rất quyết liệt khi cần, thông minh và sáng tạo không thua kém nam giới.

4 Câu chuyện đi sứ và tâm tình Đại sứ

Khó khăn lớn nhất đối với cán bộ Ngoại giao chính là vấn đề gia đình. Trước đây, khi điều kiện kinh tế còn hạn chế, đất nước chưa thể đảm bảo chế độ, chính sách đầy đủ cho cán bộ Ngoại giao công tác ở nước ngoài. Vì vậy, hầu hết cán bộ Ngoại giao khi đi công tác đều đi một mình, không có gia đình đi cùng. Đến khi cô nhận nhiệm vụ, tuy đã được phép đưa gia đình theo, nhưng mọi chi phí phải tự túc, trong khi thu nhập lúc đó không đủ để trang trải toàn bộ, nên phần lớn thời gian cô vẫn đi một mình. Chú nhà cô không làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước, nên nếu đi cùng, khi trở về việc tìm công việc sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì thế, đối với cán bộ Ngoại giao, thử thách lớn nhất là khi đi mang theo con nhỏ mà không có vợ/chồng hay người thân hỗ trợ, điều này khiến công việc vất vả hơn. Cô phải sắp xếp để vừa chăm sóc con vừa hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm kỳ đầu, cô đưa con lớn theo, đến nhiệm kỳ sau, cô lại mang con nhỏ đi, còn con lớn phải tự lo liệu.

Hồi nhỏ khi cô ở nhà nhiều thì bố mẹ thường xuyên đi vắng, khi lớn lên cô lại là người vắng nhà.

Con của cán bộ Ngoại giao có nhiều lợi thế như được ra nước ngoài từ nhỏ, sống trong môi trường mà nhiều trẻ em trong nước ao ước, với điều kiện vật chất đầy đủ hơn. Về giao lưu quốc tế và học ngoại ngữ cũng có nhiều thuận lợi hơn. Tuy nhiên, khi trở về Việt Nam, các em phải thích nghi với môi trường học tập mới. Hơn nữa, bố mẹ công tác cũng bận rộn nên buộc các em phải rèn luyện tính tự lập từ sớm, cũng rất thương các cháu, các em. Giờ đất nước mình phát triển, đời sống cán bộ Ngoại giao ngày càng tốt, hầu hết cán bộ đi sứ đều có vợ/chồng hoặc bố mẹ đi cùng, có người hỗ trợ nên đỡ khó khăn hơn. Riêng cô, khi đi sứ, cô không thấy có gì để than phiền, bởi vì tất cả mọi người đều như mình và các con cô nhìn chung là thích nghi được, chịu đựng được, và “sống sót” được.

5 Tâm niệm về ngành, về nghề, về người

5.1 Thưa cô, cô từng chia sẻ rằng: “Chức vụ chỉ là một cái áo, mình khoác cái áo đó lên nhưng không phải là mặc mãi, khi cởi ra thì con người mình có sao vẫn vậy”. Vậy trong quá trình công tác và cuộc sống, đâu là những giá trị cô luôn theo đuổi và kiên định giữ vững dù ở bất kỳ vị trí nào? Làm thế nào để người trẻ có thể xây dựng hệ giá trị “thật” và “riêng” của mình?

Khi còn đương chức, mọi người gặp cô với cương vị là Đại sứ, là Chủ tịch. Thế khi cô về hưu thì mọi người sẽ nhìn cô như thế nào? Người ta vẫn nhìn cô là chị Nga, đúng không? Cô cảm thấy thoải mái nhất là khi mặc quần bò, áo phông. Nên cô chỉ nghĩ đơn giản thế này, mình sống thế nào thì trước sau vẫn vậy, quyền lực, địa vị không làm cho con người ta thay đổi. Tất nhiên, theo thời gian, mình càng trưởng thành hơn, hiểu biết hơn, có thêm kinh nghiệm và điều kiện tốt hơn. Nhưng điều quan trọng nhất là phải trở thành một người tốt hơn, tử tế hơn. Cô muốn nhắc đến hình ảnh “cái áo” như một biểu tượng: không để chức vị khiến mình thành một con người khác, mình phải giữ những giá trị cốt lõi không được thay đổi.

Giá trị đầu tiên là tính trung thực. Thứ hai là tự lập – đạt được thành tựu bằng chính công sức, sự phấn đấu của bản thân, chứ không phải nhờ sự ban phát của người khác. Có những người ngồi vào một cái ghế không vừa với họ, có người lại quá nhỏ bé so với chiếc ghế họ đang ngồi. Có những người khoác lên mình chiếc áo rộng đến mức không còn nhận ra họ nữa. Vì vậy, điều quan trọng là giữ được cái chất của mình, truyền thống gia đình của mình. Bên cạnh đó, lòng biết ơn cũng là một phẩm chất rất quan trọng. Biết ơn những người đã sinh ra mình, nuôi dạy mình, dạy dỗ mình và hỗ trợ cho mình, để từ đó mình mới xứng đáng với những người đã tin tưởng mình.

5.2 Bài học cốt lõi nhất mà cô học từ thế hệ đi trước và đồng nghiệp của mình là gì ạ?

Cô nghĩ là có rất nhiều bài học về kỹ năng và về phương châm. Một trong những bậc thầy luôn là tấm gương đối với cô là thầy Vũ Khoan - người đã dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp đối ngoại của đất nước. Thầy không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, và luôn đi trước một bước, bất kể ở độ tuổi nào.

Cô cũng nhớ đến cô Hồ Thể Lan. Khi cô mới vào Bộ, cô Lan gọi cô ra phòng và bảo: “Nga ngồi đây, Nga nghe tôi nói câu này xem có được không?” Đó là một bài học sâu sắc về sự cầu thị và lắng nghe. Cô Lan làm như thế vừa để kiểm tra thông tin của mình, vừa đảm bảo cách diễn đạt có thể tiếp cận được công chúng hay không. Hay như chị Phan Thúy Thanh, trước mỗi buổi họp báo, chị luôn hỏi: “Nga, cho tôi biết những gì Nga nghĩ.” Chị rất tỉ mỉ, cẩn trọng – dù là ở cương vị Vụ trưởng, nhưng vẫn tự tay kiểm tra xem anh em chuẩn bị tiệc chiêu đãi như thế nào, từ cách sắp xếp bàn tiệc đến việc chọn từng chiếc đĩa, bông hoa trang trí.

Họ là những người rất trách nhiệm, đã vươn tới sự hoàn thiện nhất, mà không ngại phải bộc lộ khiếm khuyết của bản thân mình. Thế hệ của các bác, các cô là những người giành toàn bộ sức lực, tâm huyết, thời gian cho công việc, cho đất nước, cho sự nghiệp Ngoại giao. Cho nên đấy là bài học mà cô học được đầu tiên.

Với đồng nghiệp cũng vậy. Khi mới vào nghề, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhưng các đồng nghiệp trong Vụ luôn giúp đỡ lẫn nhau. Mọi người giúp đỡ nhau vô tư lắm, các cháu không hình dung được. Giúp trong công việc, trong cuộc sống. Điều cô học được chính là tinh thần tương trợ, sự sẻ chia, sống hết mình vì đồng nghiệp, vì công việc chung, vì đất nước.

Với thế hệ trẻ Ngoại giao bây giờ, cô nghĩ những giá trị này vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Kiến thức có thể học được, thông tin có thể tra cứu ngay trên mạng, nhưng tình người, tình đồng đội lại là điều không thể thay thế. Trong bối cảnh khó khăn, khi máy móc có thể thay thế con người, thì chính sự gắn kết, chia sẻ, sát cánh cùng nhau mới là yếu tố quan trọng nhất – như những người đồng đội trên chiến trường.

5.3 Ngành ngoại giao từ trước đến nay vẫn được xem là một địa hạt khá “kén người”, một phần do sự cạnh tranh cao và những rào cản nhất định về tâm lý của sinh viên như nền tảng gia đình hay trình độ ngoại ngữ. Cô có lời khuyên gì dành cho những bạn đang băn khoăn có nên thi vào trường ngoại giao hay lo lắng về cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp? Ngoài con đường truyền thống để trở thành nhà ngoại giao, theo cô, còn những hướng đi nào khác để đóng góp cho công tác đối ngoại?

Cô nghĩ cánh cửa vào Ngoại giao dù “hẹp” nhưng lại “mở” ra với tất cả mọi người. Cái khó nhất là phải thi được vào, bởi vì người muốn vào thì nhiều mà chỉ tiêu thì ít. Việc không có người thân làm trong ngành không phải là trở ngại lớn, vì ngày xưa rất ít người biết đến ngoại giao. Ngay cả thế hệ của cô cũng không phải tất cả cán bộ Ngoại giao đều xuất thân từ gia đình có truyền thống trong ngành. Thế nên Ngoại giao không phải là nơi chỉ dành cho con em trong ngành, Ngoại giao trước hết là nơi dành cho những người có đam mê, có tâm huyết và có năng lực. Nếu vào Ngoại giao mà không có năng lực thì hoặc bạn sẽ không bao giờ phát triển được, hoặc là bạn sẽ tự bị đào thải. Lo lắng về trình độ ngoại ngữ là hoàn toàn có cơ sở, vì ngay cả thời của cô, ngoại ngữ cũng đã là một yêu cầu bắt buộc. Ngày nay, yêu cầu này càng cao hơn nữa – một cán bộ Ngoại giao không thể ra nước ngoài mà lại cần có phiên dịch hỗ trợ trong mọi tình huống. Vì vậy, muốn bước chân vào ngành, các bạn cần chủ động học tập, trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết, bởi yêu cầu đối với cán bộ Ngoại giao ngày càng khắt khe hơn.

Thực ra, không vào được ngành Ngoại giao không có nghĩa là con đường khép lại, cũng không đồng nghĩa với việc không còn cơ hội nào khác. Cô nghĩ rằng, đối ngoại không phải cái gì xa vời hay chỉ dành riêng cho ngành Ngoại giao. Thực tế, ngành nào cũng có yếu tố đối ngoại – từ doanh nghiệp đến nhân dân. Vì vậy, nếu các em tốt nghiệp trường Ngoại giao, điều đó có nghĩa là các em đã có phông nền tảng kiến thức và kỹ năng rất vững vàng để có thể làm đối ngoại trên nhiều lĩnh vực. Cơ hội thành công luôn rộng mở, chỉ có điều phải chuẩn bị tốt hành trang của mình và phải đi bằng đúng đôi chân của mình.

6 Thay lời nhắn nhủ

6.1 Thưa cô, cô có đôi lời nhắn nhủ gì tới thế hệ cán bộ Ngoại giao trẻ và sinh viên, trước những thách thức đối trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp hiện nay?

Cô nghĩ rằng, hãy luôn nuôi dưỡng khát vọng của mình bằng việc không ngừng học tập và rèn luyện. Các em cần ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng, đất nước và sứ mệnh gìn giữ hòa bình, thúc đẩy hợp tác hữu nghị. Trách nhiệm của thế hệ trẻ rất lớn – hai mươi năm nữa, chính các em sẽ là những người gánh vác công việc của đất nước. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các em phải chuẩn bị thật tốt cho bản thân, cho sứ mệnh của mình và cho tương lai của đất nước.

Nếu muốn trở thành cán bộ Ngoại giao, điều quan trọng đầu tiên là phải hiểu sâu sắc về đất nước mình. Kiến thức về lịch sử, văn hóa dân tộc không chỉ là hành trang cần thiết, mà còn là vũ khí, là sức mạnh tinh thần giúp các em vững vàng trước mọi thử thách. Ngoại giao là một nghề danh giá, nhưng không hề dễ dàng. Đôi khi, cán bộ Ngoại giao còn phải kiêm luôn vai trò của một bác sĩ. Ở các địa bàn lớn, có điều kiện thuận lợi thì còn có sự hỗ trợ, nhưng ở những nơi xa xôi, thiếu thốn thuốc men, bác sĩ, người cán bộ phải tự rèn luyện, tự vượt qua mọi khó khăn. Hãy luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất và hết lòng vì đam mê. Nghề Ngoại giao đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, chân thành là một phẩm chất vô cùng quan trọng. Chỉ có sự chân thành và trung thực mới giúp chúng ta giành được lòng tin và sự tín nhiệm từ bạn bè, đối tác quốc tế.

6.2 Hướng tới Lễ Kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Ngoại giao nói chung và Học viện Ngoại giao nói riêng, cô kỳ vọng như thế nào về “diện mạo” của ngành Ngoại giao Việt Nam trước cột mốc này?

Cô chỉ nghĩ đơn giản rằng, cùng với sự phát triển của đất nước, ngành Ngoại giao trên tất cả các lĩnh vực – từ thực tiễn đối ngoại đến đối ngoại nhân dân – sẽ tiếp tục lớn mạnh, khẳng định vai trò và vị trí của mình. Ngành sẽ có những đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của đất nước, phục vụ hiệu quả các mục tiêu quốc gia, đồng thời duy trì vị thế ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển trên thế giới. Ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp nối truyền thống đáng tự hào, tiếp tục bồi dưỡng và sản sinh được nhiều thế hệ cán bộ ngoại giao xuất sắc, tận tâm cống hiến hết sức mình vào sự nghiệp đối ngoại của đất nước.