PHẢN ỨNG NHANH - 4.2.2021

Để tiếp nối chuỗi bài tổng hợp và phân tích sự kiện 2020 đầy bổ ích và giàu kiến thức, Galileo Society xin trân trọng giới thiệu bài viết với chủ đề vô cùng thú vị:

NGUY CƠ BÙNG PHÁT XUNG ĐỘT TỪ CUỘC TRANH CHẤP THƯỢNG NGUỒN SÔNG NILE

Trong năm 2020, an ninh năng lượng, đặc biệt là an ninh nguồn nước tiếp tục là một trong những chủ đề gây nhiều chú ý trong quan hệ quốc tế. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, khi các hoạt động trao đổi thương mại quốc tế rơi vào trạng thái đình trệ, nhu cầu đảm bảo an ninh nguồn nước lại càng trở nên cấp thiết hơn cho các quốc gia nhằm duy trì sự bình ổn của nền kinh tế nội địa. Điều này một phần đã dẫn tới những diễn biến mới, khó lường cho các cuộc tranh chấp nguồn nước hiện đang tiếp diễn trên lưu vực các con sông lớn. Đặc biệt, cuộc tranh chấp nguồn nước trên thượng lưu sông Nile Xanh đang diễn biến theo chiều hướng hết sức tiêu cực khi tiến trình đàm phán - vốn được khởi động từ năm 2011 đang ngày càng đi vào bế tắc và khả năng bùng phát xung đột hiện hữu rõ nét. Với hàng loạt các động thái sẵn sàng về mặt quân sự trong năm 2020 từ cả phía Ai Cập lẫn Ethiopia - hai quốc gia có liên quan chính trong cuộc tranh chấp này, nguy cơ chiến tranh đang được đẩy lên mức độ cao nhất. Cả hai nước trên đều sở hữu dân số đông, tiềm lực kinh tế, quân sự và chính trị lớn mạnh tại Châu Phi và vì vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, bất kỳ cuộc xung đột nào diễn ra giữa hai bên cũng sẽ là mối đe dọa lớn đến hòa bình và ổn định trong khu vực. Tới thời điểm hiện tại, phía Ai Cập đã từng nhiều lần đe dọa sẽ sử dụng vũ lực trong trường hợp không đạt được thỏa thuận và phía Ethiopia cũng đã khẳng định luôn đặt quân đội trong chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, từ đó đặt ra câu hỏi rằng : “Liệu các bên liên quan sẽ lựa chọn giải pháp quân sự thay vì tiếp tục với giải pháp thương lượng hòa bình?”. Nhằm hiểu rõ hơn về tình hình phức tạp hiện tại để tìm câu trả lời, trước tiên, ta sẽ cùng điểm qua những dấu mốc lịch sử trong diễn biến của cuộc tranh chấp này.

Sự bất bình đẳng trong việc chia sẻ nguồn nước: Ngòi nổ cho mâu thuẫn

Về mặt địa lý, nguồn nước sông Nile được tạo thành từ ba phụ lưu chính, bao gồm sông Nile Xanh và sông Nile Trắng, cùng với nhánh nhỏ là sông Atbara, được chia sẻ giữa 11 quốc gia bao gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, CHDC Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, Sudan và Ai Cập. Dòng Nile Trắng bắt nguồn từ hồ Victoria thuộc Uganda còn dòng Nile Xanh bắt nguồn từ hồ Tana thuộc Ethiopia, cả hai dòng này hợp lưu tại thủ đô Khartoum của Sudan trước khi chảy về hạ nguồn tại Ai Cập để đổ ra biển Địa Trung Hải.

Trong số 11 quốc gia lưu vực, Ai Cập phụ thuộc nhiều nhất vào sông Nile vì đây là nguồn nước ngọt chính, cung cấp tới 96% nhu cầu nước hàng năm cho các hoạt động kinh tế nội địa của nước này (1). Dù phụ thuộc nặng nề vào nguồn nước sông Nile, không có nguồn nào của sông Nile bắt nguồn từ Ai Cập, khiến cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước trở thành vấn đề mang tính sống còn đối với vận mệnh quốc gia, như lời cố tổng thống Anwar Al-Sadad đã từng tuyên bố sau khi ký kết thỏa thuận hòa bình với Israel năm 1979 rằng : “Thứ duy nhất có thể đẩy Ai Cập trở lại bờ vực chiến tranh chính là nguồn nước”. Ngay từ thời kỳ Ai Cập còn là xứ bảo hộ của Anh, những nhà cai trị phương Tây đã tiến hành ký kết hàng loạt các hiệp ước nhằm đảm bảo quyền lợi của mình trong việc chia sẻ nguồn nước. Bốn bản hiệp ước được Anh ký kết vào 3 năm (1891-1902-1906) với Ý, Pháp, Ethiopia và Congo đều nhằm đảm bảo sẽ không có quốc gia phía thượng nguồn nào có thể can thiệp vào dòng chảy của sông Nile, đặc biệt trong trường hợp gây nguy hại cho Ai Cập (2). Sau khi giành độc lập vào năm 1922, hai bản hiệp ước mới được ký kết vào năm 1929 và 1959 với Đế quốc Anh và Sudan (khi đã độc lập từ Anh) đã cho Ai Cập quyền phủ quyết đối với bất kỳ dự án nào nằm trên lưu vực sông Nile và quyền nhận tới 55,5 tỷ mét khối nước mỗi năm - tức 87% tổng lưu lượng dòng chảy (3). Đáng nói, hầu hết các quốc gia khác trong lưu vực sông Nile đều không có tiếng nói trong việc ký kết hai thỏa thuận song phương này do vẫn đang là thuộc địa của các đế quốc phương Tây và vì vậy, sau khi chế độ thực dân sụp đổ, chúng đã bị lên án thiếu tính công bằng (4). Nhu cầu chia sẻ nguồn nước của các quốc gia khác trong lưu vực đã bị bỏ ngỏ hoàn toàn, đặc biệt là Ethiopia - nơi 70 tới 80% lưu lượng sông Nile khởi nguồn. Tới tháng 2/1999, tổ chức Sáng kiến lưu vực Sông Nile (NBI) được thành lập dưới sự hậu thuẫn của Ngân hàng Thế giới, với sự tham gia của chín nước lưu vực đã lần đầu tiên tạo ra một khuôn khổ thể chế nhằm giải quyết vấn đề sử dụng nguồn nước sông Nile. Tuy nhiên, Sudan và Ai Cập đã đình chỉ tư cách thành viên của mình sau khi Thỏa thuận Khung Hợp tác (CFA), với mục tiêu nhằm tái định hình vấn đề chia sẻ nguồn nước của sông Nile được ký kết tại Entebbe, Uganda vào tháng 5/2010 (5)

Như vậy, vấn đề bất bình đẳng trong chia sẻ nguồn nước, tạo lập dưới cơ sở pháp lý không bền vững, thiếu tính ràng buộc của các bản thỏa thuận ký kết trong thời kỳ thuộc địa chính là một trong những lý do nền tảng hình thành nên mâu thuẫn giữa các quốc gia ven sông Nile. Mặc dù chế độ thuộc địa đã kết thúc, Sudan và Ai Cập - hai quốc gia hạ nguồn tiếp tục viện dẫn các bản hiệp ước này làm cơ sở để bảo vệ lợi ích riêng của mình mà không chấp nhận sửa đổi, trong khi các nước khác lại không công nhận tính pháp lý của chúng và coi đó như những di sản của chế độ thuộc địa. Do không được giải quyết thỏa đáng giữa các quốc gia có liên quan, sự bất bình đẳng trong phân chia nguồn nước đã đưa tới một cột mốc mới trong quá trình tranh chấp khi vào năm 2011, phía Ethiopia chính thức khởi công dự án Đập Thủy điện Đại Phục Hưng (GERD) nằm trên dòng Nile Xanh.

Tiến trình thương lượng cam go

Về mặt lịch sử, ý tưởng xây dựng một đập thủy điện công suất lớn trên dòng Nile Xanh đã được phía Ethiopia ấp ủ từ rất lâu và trong giai đoạn 1956-1964, Hoa Kỳ đã hỗ trợ nước này khảo sát vị trí thích hợp dọc sông Nile Xanh để triển khai dự án. Tới năm 2010, vị trí thiết kế xây dựng đập đã được ấn định nằm tại tỉnh Benishangul-Gumuz, Đông Bắc Ethiopia. Addis Ababa đã công bố và tiến hành khởi công dự án này vào năm 2011 - trùng với thời điểm nội bộ Ai Cập còn đang chìm đắm trong hỗn loạn do sự bùng phát của phong trào Mùa xuân Arab (6). Khi đó, phía Ai Cập đã lên án Ethiopia lợi dụng tình hình bất ổn tại nước này để khởi công dự án, và không có sự tham khảo ý kiến từ phía Ai Cập trước khi thi công như một phần của hiệp ước 1929. Mới đầu, Sudan cũng đứng về phía Ai Cập và lên tiếng chống lại dự án này do những lo ngại về sự suy giảm nguồn nước. Sau nhiều tranh cãi và hàng chục lần nhóm họp, ba nước đã nhất trí thuê hai công ty tư vấn từ Pháp là Artelia và BRL để đánh giá các tác động của con đập đối với khu vực hạ lưu. Tuy nhiên, cục diện của cuộc tranh chấp đã có sự thay đổi khi Sudan quyết định ủng hộ phía Ethiopia sau khi nhận được những hứa hẹn về các bản hợp đồng điện ưu đãi từ phía nước này và theo đánh giá, việc tích trữ nước của con đập cũng sẽ giúp giảm bớt nguy cơ lũ lụt, tăng sản lượng nông nghiệp của Sudan. Trước tình hình đó, vào tháng 3-2016, Cairo buộc phải nhất trí với thỏa thuận hòa giải của Ethiopia và lãnh đạo ba nước ký kết tuyên bố cho phép xây dựng đập, dựa trên căn cứ là bản báo cáo việc vận hành do các nhà thầu Pháp soạn thảo (7). Cho tới nay, tiến trình đàm phán - vốn đã kéo dài gần một thập kỷ vẫn còn nhiều bất đồng giữa các bên trong hai vấn đề, bao gồm thời gian trữ đầy nước của hồ thủy điện sau con đập này cũng như lưu lượng nước Ethiopia sẽ xả trong mùa khô. Kể từ ngày 15/7 năm ngoái, phía Ethiopia xác nhận đã đơn phương tiến hành quy trình trữ nước, một ngày sau khi cuộc đối thoại ba bên kết thúc không đạt được thỏa thuận [8].

Đối với Ethiopia, một quốc gia với nền kinh tế luôn nằm trong trạng thái trì trệ suốt hàng thập kỷ do tác động từ các cuộc nội chiến, xung đột sắc tộc, nạn khủng bố,..., cách đặt tên “Đại Phục Hưng” đã thể hiện khát vọng của chính phủ nhằm khôi phục lại sự thịnh vượng cho quốc gia Đông Phi này. Theo kế hoạch, một khi quy trình trữ nước hoàn tất, công trình này sẽ có khả năng cung cấp điện tới 6450MW, với 2000MW sẽ được xuất khẩu sang các quốc gia lân cận, biến Ethiopia thành trung tâm năng lượng lớn nhất tại Châu Phi cũng như đảm bảo các nhu cầu về năng lượng và việc làm cho 60 triệu người dân - hơn một nửa dân số nước này. Siêu đập thủy điện lớn thứ bảy thế giới này - với nguồn vốn lên tới 4,8 tỷ đô huy động hoàn toàn từ trong nước cũng được kỳ vọng sẽ đưa Ethiopia trở thành một trung tâm công nghiệp nhẹ của Châu Phi và một nền kinh tế có thu nhập trung bình vào năm 2025. Những lợi ích kể trên đã lý giải tại sao chính phủ Ethiopia kiên quyết không trì hoãn tiến độ công trình này và không chấp nhận thỏa hiệp với hai bên còn lại trên bàn đàm phán.

Trong khi con đập đem tới cơ hội lớn cho nền kinh tế Ethiopia, nó lại là một thảm hoạ cho phía Ai Cập. Theo một báo cáo của Al Jazeera, dựa theo mức thời gian tích trữ nước mà các bên đang đàm phán (21-10-7-5-3 năm), ngành nông nghiệp Ai Cập có thể sẽ phải chịu thiệt hại ở mức độ tương ứng. Nếu con đập trữ đầy nước trong 21 năm, Ai Cập sẽ mất 5% trữ lượng nước hàng năm nhận được và ngành nông nghiệp sẽ thiệt hại ít hơn 2,5%. Tuy nhiên, nếu phía Ethiopia đẩy nhanh quá trình trữ nước và hoàn thành chỉ trong 3 năm, Ai Cập có thể mất tới 50% trữ lượng nước hàng năm nhận được và ngành nông nghiệp sẽ thiệt hại tới 67% (9). Khi mức thời gian càng được kéo dài, Ai Cập có thể tranh thủ triển khai các công nghệ tiên tiến về nông nghiệp, khử muối và tái chế nước,...nhằm thích nghi với điều kiện mới, cho dù các biện pháp này chỉ khả thi trong dài hạn và không hiệu quả để triển khai nếu phía Ethiopia tiếp tục cương quyết trong lập trường của mình, với vùng thỏa thuận giới hạn từ 3 tới 7 năm.

Sau một thập kỷ của tiến trình đàm phán, bước đột phá vẫn chưa đến và các bên đang mất dần kiên nhẫn. Với những động thái gần đây, nhiều chuyên gia đã đưa ra dự đoán về khả năng bùng phát xung đột giữa hai bên, đặc biệt sau những đe dọa về can thiệp quân sự đưa ra bởi chính quyền Ai Cập, cũng như rất nhiều lần phía Ethiopia sẵn sàng rút khỏi bàn đàm phán và cương quyết bảo vệ con đập.

Mâu thuẫn thương lượng có trở thành xung đột vũ trang?

Trong năm 2020, đặc biệt từ thời điểm Ethiopia bắt đầu quy trình trữ nước vào tháng 7, cả hai bên đều đã có những động thái thể hiện trạng thái sẵn sàng trong trường hợp bùng phát xung đột. Vào tháng 7/2020, có những báo cáo cho thấy Ai Cập đang cố gắng thiết lập doanh trại quân đội tại Somaliland - một lãnh thổ ly khai thuộc Somalia, phía Đông Ethiopia (10). Trước đó, vào tháng 5, máy bay từ Ai Cập chở 2 nghìn vũ khí các loại được cho là đã tới Somalia, nhưng bị chính phủ nước này chặn lại (11). Có nguồn tin cho rằng Ai Cập cũng đang có một lượng quân dự bị lớn đóng tại một căn cứ ở Sawa, Eritrea - quốc gia giáp ranh phía Bắc Ethiopia (12). Ngày 19/5, tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi đã ra lệnh cho quân đội nước này chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Phía Ethiopia cũng đã triển khai các hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 và Pantsir-S1 để bảo vệ con đập và Ngoại trưởng Ethiopia Gedu Andargachew cũng đã cảnh báo rằng quân đội nước này sẽ đáp trả mọi hành động thù địch của Ai Cập nhằm vào công trình (13). Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về nguy cơ bùng phát xung đột, chúng ta cần phân tích những nhân tố quan trọng có thể ảnh hưởng tới quyết định tuyên chiến của hai phía.

Nhân tố đầu tiên có thể ảnh hưởng tới khả năng bùng nổ xung đột giữa các bên chính là sự chênh lệch về tương quan lực lượng. Khi xét tới tương quan lực lượng, cán cân rõ ràng đang nghiêng hẳn về phía Ai Cập. Không quân và lục quân của Ai Cập vượt trội hẳn so với phía Ethiopia về số lượng cũng như sức chiến đấu. Đặc biệt, Ai Cập cũng mới đạt được bản hợp đồng chuyển giao kỹ thuật và quy trình chế tạo hơn 500 xe tăng chiến đấu chủ lực T-90MS với hai công ty của Nga vào tháng 7 năm ngoái (14). Hơn nữa, về sức mạnh hải quân, Ai Cập cũng là quốc gia châu Phi duy nhất có sở hữu tàu sân bay, trong khi Ethiopia lại là một quốc gia nội lục nên không có hải quân. Theo Global Fire Power, sức mạnh của quân đội Ai Cập xếp ở vị trí thứ 9 trong số 138 nước, còn Ethiopia lại chỉ nằm ở vị trí thứ 60 (15). Ai Cập cũng có rất nhiều kinh nghiệm trong các chiến dịch quân sự tại nước ngoài vì đã từng tham gia vào vô số các cuộc xung đột trong khu vực tại Lybia, Yemen, các cuộc chiến tranh với Israel,... Ngược lại, trong hàng thập kỷ trở lại đây, Ethiopia đã vướng phải rất nhiều cuộc xung đột với những nước láng giềng, với tổn thất nặng nề nhất chính là sự ly khai của khu tự trị Eritrea và trở thành nhà nước độc lập vào năm 1993. Hiện tại, những diễn biến căng thẳng của phong trào ly khai diễn ra tại khu tự trị Tigray cũng khiến cho quân đội nước này đang phải tập trung và tiêu tốn rất nhiều nguồn lực. Tuy nhiên, địa lý sẽ là vấn đề cản trở duy nhất đối với quân đội Ai Cập nếu họ quyết định tấn công con đập bởi không quân nước này sẽ bắt buộc phải vượt qua không phận Sudan nếu muốn tiến vào Ethiopia và phía hải quân cũng sẽ chỉ có thể tấn công bằng tên lửa từ ngoài khơi Biển Đỏ, do vị trí không giáp biển của Ethiopia. 

Vai trò của các nước và tổ chức trung gian, đặc biệt từ các chủ thể trong khu vực đối với tiến trình thương lượng cũng là một nhân tố tối quan trọng. Trước đây, Mỹ là quốc gia hậu thuẫn chính cho tiến trình đàm phán giữa hai bên bởi cả hai đều là đồng minh quan trọng của mình trong khu vực. Tuy nhiên, khi cựu tổng thống Donald Trump tại nhiệm, Washington đã thể hiện một sự thiên vị nhất định cho phía Cairo, đặc biệt sau khi Ethiopia tiến hành quá trình trữ nước vào tháng 7, qua phát ngôn tổng thống Trump vào cuối tháng 10 rằng : “Họ (chỉ Ai Cập) cuối cùng cũng sẽ cho nổ tung cái đập đó”, (16) khiến cho Addis Ababa đã phải triệu tập đại sứ Mỹ tại nước này để làm rõ về phát ngôn trên (17). Vào tháng 9, Mỹ cũng đã quyết định cắt khoản viện trợ trị giá 130 triệu dollar nhằm gây sức ép với Ethiopia (18). Hiện tại, những định hướng của tân tổng thống Joe Biden vẫn chưa được đề cập, nhưng theo cựu ngoại trưởng Ai Cập Nabil Fahmy đánh giá, nhiều khả năng ông sẽ không tập trung sớm vào vấn đề này ngay sau khi tiếp quản văn phòng (19). Trung Quốc cũng có mối quan hệ mật thiết với cả ba nước liên quan và không muốn bất kỳ cuộc xung đột nào diễn ra bởi chúng có thể ảnh hưởng xấu tới quan hệ thương mại và các mối đầu tư của mình tại các nước này, vốn là một khu vực quan trọng trong sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Bắc Kinh (20). Bên cạnh đó, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Arab Saudi cũng được đánh giá là một nhân tố quan trọng trong vai trò trung gian hòa giải. Cả hai đều là đồng minh quan trọng của Ai Cập trong khối Arab và thông qua hai nước này, Ai Cập cũng đã từng nhờ Liên đoàn Arab (AL) lên án những bước đi của Addis Ababa (21). Tuy nhiên, Sudan và Ethiopia cũng là một nguồn đảm bảo an ninh lương thực quan trọng cho cả hai và với vai trò của con đập trong việc giảm thiểu lũ lụt tại Sudan, bảo vệ nguồn lương thực xuất khẩu thì có thể dự đoán rằng, cả hai nước sẽ cố gắng tìm kiếm phương thức hòa giải nhằm đảm bảo quan hệ của mình với cả ba bên (22). Các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu, Liên minh Châu Phi, Liên đoàn Arab cũng đều đã bày tỏ sự ủng hộ cho giải pháp thương lượng hòa bình thay vì quân sự. Nhìn chung, quyết định phát động chiến tranh của các bên nhiều khả năng sẽ không nhận được ủng hộ của các chủ thể lớn trong khu vực và quốc tế. Các nước lớn đều rất do dự với bất kỳ giải pháp quân sự nào được triển khai từ các bên bởi nếu xung đột bùng phát, chúng có thể gây ảnh hưởng lớn tới thương mại quốc tế do vị trí giáp ranh của khu vực này với tuyến đường biển quan trọng nối giữa Kênh đào Suez và Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, nếu các bên trung gian không có những động thái thúc đẩy hòa bình quyết liệt hơn, đặc biệt là từ phía Mỹ và Liên minh Châu Phi, nguy cơ Ai Cập đơn phương thực hiện chiến tranh phủ đầu (preemptive war) vẫn hiện hữu rõ nét.

Cuối cùng, nhân tố chính trị nội bộ cũng có tầm ảnh hưởng quyết định đối với khả năng tuyên chiến của các bên. Đối với Ai Cập, vào ngày 25/07/2020, tổng thống nước này đã được ủy quyền từ Quốc hội đối với lệnh điều động các lực lượng vũ trang Ai Cập thực hiện các nhiệm vụ tác chiến bên ngoài biên giới (23). Đặc biệt, phía chính quyền Ai Cập cũng lo ngại rằng, trước viễn cảnh nền kinh tế Ai Cập bị xoay chuyển do những tác động của con đập, các cuộc bạo loạn và nổi dậy hoàn toàn có thể bùng phát (24), không ngoại trừ khả năng của một cuộc đảo chính như đã từng xảy ra vào 10 năm trước trong làn sóng Mùa xuân Arab tại nước này. Còn đối với phía Ethiopia, trải qua một năm 2020 đầy biến động khi đất nước này phải hứng chịu đại dịch châu chấu, Covid-19, bạo loạn,... thì việc chính phủ không thể bảo vệ quá trình vận hành của con đập - một biểu tượng của niềm tự hào quốc gia cũng sẽ khiến cho Thủ tướng đương nhiệm Abiy Ahmed mất đi sự ủng hộ cần thiết để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 7 tới (25).

Lời kết

Nhìn chung, thông qua quá trình phân tích trên, chúng ta có thể thấy rõ nguy cơ phát động chiến tranh từ phía Ai Cập, cho dù nước này chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, chắc chắn phía Ai Cập sẽ cần phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn cho các giải pháp, dù quân sự hay ngoại giao nhằm sớm gỡ bỏ thế bế tắc. Một khi phía Ethiopia đã trữ đủ nước, những giải pháp thương lượng hay ngoại giao sẽ không còn hiệu quả và giải pháp tấn công vào con đập cũng sẽ đưa tới kết quả là một cuộc đại hồng thủy khi dòng nước này tràn về hạ lưu phía Ai Cập.

Cuối cùng, chúng ta có thể có nhiều liên hệ giữa trường hợp của Ai Cập và Việt Nam. Nước ta cũng nằm ở cuối hạ lưu của sông Mekong - một con sông quốc tế lớn và cũng đang chịu nhiều ảnh hưởng bởi cuộc tranh chấp nguồn nước đang diễn ra trên dòng sông này. Hàng loạt các đập thủy điện lớn nhỏ được xây dựng bởi hai quốc gia thượng nguồn sông Mekong là Trung Quốc và Lào đã làm suy giảm đáng kể lưu lượng dòng chảy, gây tác động tiêu cực tới nhiều nước vùng hạ lưu, trong đó có Việt Nam. Vào đầu tháng 3/2020, đã có tới 5 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải ban bố tình trạng khẩn cấp do đợt hạn hán và xâm nhập mặn kỷ lục diễn ra tại khu vực này (26). Sông Mekong đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực của nước ta bởi đó là nguồn nước ngọt chính của khu vực ĐBSCL - vựa lúa lớn nhất nước ta, khu vực cung cấp tới hơn 50% sản lượng lúa gạo cả nước và 90% sản lượng gạo xuất khẩu (27). Do đó, nếu cuộc tranh chấp nguồn nước trên sông Mekong không được giải quyết ổn thỏa giữa các bên liên quan thì tương tự như phía Ai Cập, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ là khu vực kinh tế gánh chịu thiệt hại nặng nề nhất. Hiện tại, những biện pháp hợp tác giải quyết thông qua ngoại giao vẫn đang được triển khai hiệu quả, đặc biệt trong các hoạt động của Việt Nam tại Uỷ hội sông Mekong (MRC). Bên cạnh đó, Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) cũng đã chủ động tham gia đầu tư vào dự án thủy điện Luang Prabang nhằm đảm bảo quá trình thi công và vận hành của thủy điện sẽ không gây thiệt hại cho khu vực hạ nguồn (28). Trên thực tế, Ai Cập và Việt Nam cũng đã từng bày tỏ mong muốn có được sự chia sẻ giữa hai bên trong việc quản lý nguồn nước và quản lý các đập thủy điện thượng nguồn (28). Giải quyết tranh chấp nguồn nước tại các con sông quốc tế là vấn đề hết sức phức tạp nhưng có thể khẳng định rằng, kinh nghiệm từ cả hai nước sẽ là bài học đáng giá cho rất nhiều các quốc gia khác đang ở trong tình thế tương tự.

Xem toàn bộ bài viết và tài liệu tham khảo tại:

https://drive.google.com/.../1_Oj1qdi2984CJ2TEl1z.../view...

Đừng quên theo dõi Galileo Society để tiếp tục cập nhật các bài viết bổ ích trong chuỗi bài tổng kết năm 2020 nhé!