Ngày 28/2/2025 vừa qua, Học viện Ngoại giao đã chủ trì tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Ngoại giao Việt Nam: 80 năm vinh dự, tự hào”. Đây là chương trình khởi đầu chuỗi sự kiện hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Ngoại giao Việt Nam (28/8/1945 - 28/8/2025). Đến dự Tọa đàm có nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, các nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao: Lê Văn Bàng, Đoàn Xuân Hưng, Đặng Đình Quý cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao, sinh viên Học viện Ngoại giao. Phát biểu tại Tọa đàm, Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Minh Vũ cho biết, 80 năm qua chỉ là “một chớp mắt” trong tiến trình dài của lịch sử dân tộc, nhưng lại là một chặng đường vô cùng quan trọng đối với quá trình hình thành, phát triển và khẳng định chính mình của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Các diễn giả tại Tọa đàm đều khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự soi sáng, dẫn đường của tư tưởng Hồ Chí Minh, ngành ngoại giao Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi trong suốt 80 năm qua, góp phần vào sự nghiệp trong sự nghiệp giữ vững độc lập dân tộc và phát triển đất nước hùng cường.[1] Hãy cùng Galileo Society điểm qua những cột mốc quan trọng trong hành trình 80 năm của Ngoại giao Việt Nam nhé!

1 Chặng đường 80 năm hình thành và phát triển

Từ năm 1945 - 1975, Ngoại giao Việt Nam phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, và các đồng chí lãnh đạo cách mạng tiền bối, nhân dân ta đã phá tan gông xiềng nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ trong lịch sử quang vinh của dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh.

Công tác đối ngoại đã kết hợp đồng bộ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; cùng với hệ thống chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những hoạt động đối ngoại đầu tiên và là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của đất nước. Kế thừa truyền thống dân tộc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Người đã đánh giá đúng đắn xu hướng thế giới, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với dòng chảy của thời đại. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh nổi bật ở khả năng tạo dựng và chớp thời cơ, là ngoại giao “tâm công” để thu phục lòng người. Đặc biệt, cách ứng xử khéo léo với các nước lớn của Người nhằm bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc” là bài học quý giá về sự uyển chuyển trong sách lược ngoại giao.[2]

Trên cơ sở các nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” và những sách lược táo bạo, khôn khéo như “hòa để tiến”, “phân hóa kẻ thù” hay “biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”,[3] Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 đã góp phần bảo vệ thành công chính quyền cách mạng non trẻ. Tiếp đến, những thắng lợi của mặt trận đối ngoại, ngoại giao trên bàn đàm phán ở Geneva năm 1954 và Paris năm 1973 đã mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.[4] Bàn về đóng góp của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ này, Đại sứ Đặng Đình Quý, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhận định Bác Hồ đã để lại hai bài học lớn gồm “tạo thời cơ, giành thời cơ, chớp thời cơ” trong năm 1945-1946 và bài học về làm chủ cuộc chơi trong đàm phán Hiệp định Paris, được coi là “tuyệt kỹ của ngoại giao nước nhỏ”.[5]

Từ năm 1975 - nay, mặt trận Ngoại giao phục vụ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Từ Đại hội VI (năm 1986), đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia- dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối ngoại thời kỳ đổi mới. Trong thời kỳ này, ngoại giao tiên phong công cuộc đổi mới, can đảm với những tư duy đột phá để đưa đất nước ra khỏi thế bao vây cấm vận. Nhiệm vụ bao trùm và thường xuyên của ngoại giao Việt Nam là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước.[6]

Quan hệ ngoại giao không ngừng được mở rộng, đi vào chiều sâu. Đến nay, nước ta có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, đã ký và tham gia 17 hiệp định thương mại tự do (FTA). Việt Nam là thành viên của hầu hết tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương quan trọng, đã hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế như Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (2008-2009 và 2020-2021), Hội nghị cấp cao ASEAN (1998, 2010 và 2020), Hội nghị cấp cao ASEM (2004), Hội nghị thượng đỉnh APEC (2006, 2017),…[7]

Bước vào "kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam", trên cơ sở nghiêm túc tổng kết những bài học đối ngoại của 40 năm đổi mới và trước bối cảnh tình hình mới và các vấn đề lớn đặt ra đối với đất nước, ngành ngoại giao sẽ tiếp tục đổi mới tư duy và hành động, tham mưu, xây dựng những giải pháp mới bổ sung cho đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu là "bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên".[8] “Kỷ nguyên mới” là một lời hiệu triệu, một tiếng gọi của non sông để kêu gọi mọi người nhìn về 1 hướng, quyết tâm cao để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên khẳng định Ngoại giao Việt Nam trong 80 năm qua đã để lại một di sản đồ sộ, mở ra cơ hội vàng, thời cơ vàng mà thế hệ trẻ cần tận dụng một cách sáng tạo để giữ vững độc lập dân tộc và phát triển đất nước hùng cường. Tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn cho rằng, “Thế hệ cán bộ ngoại giao trẻ hôm nay cần nỗ lực tiếp bước những thế hệ nhà ngoại giao đi trước, phấn đấu trở thành những nhà ngoại giao có tầm nhìn xa, có bản lĩnh và không ngừng học hỏi, tiếp tục đưa 'ngọn đuốc' của đối ngoại Việt Nam vươn xa, rọi sáng hơn trong kỷ nguyên mới”.[9]

2 Vai trò của Ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn thế giới đầy biến động

Hiện nay, tình hình thế giới biến động nhanh và khó lường. Hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rất phức tạp, gay gắt; cục diện đa cực ngày càng rõ nét. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, thách thức; chủ nghĩa dân túy, bảo hộ có xu hướng tăng lên; sự điều chỉnh chính sách, quan hệ đối ngoại của các nước lớn trong khu vực và trên thế giới diễn biến khó lường. Tăng trưởng kinh tế thế giới và thương mại, đầu tư quốc tế có xu hướng giảm; nợ công toàn cầu tăng, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế gia tăng.[10] Chính vì hoàn cảnh này, Ngoại giao Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ nhất, Ngoại giao Việt Nam phải xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia. Trong buổi làm việc với Bộ Ngoại giao ngày 28/9/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng mục tiêu cao nhất của ngoại giao thời đại mới chính là “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; vì Đảng vững mạnh; vì nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại; vì ấm no, hạnh phúc của Nhân dân”.[11] Trong thời bình, ngoại giao đóng vai trò nòng cốt trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã thành công trong việc hoạch định biên giới trên bộ với Lào, Trung Quốc và Campuchia, thiết lập được đường biên giới hòa bình, ổn định và hữu nghị. Đối với biên giới trên biển, ngoại giao đã thúc đẩy đàm phán, xây dựng lòng tin và quản lý tranh chấp với các nước láng giềng, đồng thời kiên quyết đấu tranh bằng biện pháp hòa bình trước các hành vi xâm phạm chủ quyền. Ngoài ra, ngoại giao còn khéo léo xử lý các vấn đề phát sinh trong quan hệ với các nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho an ninh và phát triển đất nước.[12]

Thứ hai, Ngoại giao Việt Nam phải thúc đẩy hợp tác quốc tế, tăng cường quan hệ với các đối tác lớn, tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế. Một trong những trọng tâm ngoại giao hiện nay chính là ngoại giao kinh tế.[13] Từ một nền kinh tế khép kín, bao cấp, đến nay Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới liên kết kinh tế khu vực với 17 hiệp định thương mại tự do.[14] Trong tiến trình đó, ngoại giao đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước các biện pháp, bước đi chiến lược để Việt Nam tham gia sâu vào nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, qua đó tạo ra những động lực to lớn cho sự nghiệp phát triển đất nước.[15]

Thứ ba, Ngoại giao Việt Nam phải góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, khẳng định vai trò của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế. Trong bài phát biểu ở phiên khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.[16] Đóng góp của ngành ngoại giao đối với việc nâng cao vị thế của Việt Nam là rất to lớn. Năm 1986, chính sách Đổi mới đã đặt nền móng cho tư duy đối ngoại toàn diện, với phương châm "đa phương hóa, đa dạng hóa" các mối quan hệ, bảo đảm lợi ích quốc gia, tăng cường hội nhập kinh tế và chính trị quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, trong đó có: 10 Đối tác Chiến lược Toàn diện; 20 Đối tác Chiến lược (bao gồm cả 10 Đối tác Chiến lược Toàn diện) và 14 Đối tác Toàn diện. Đặc biệt, Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của các tổ chức quốc tế quan trọng như Liên hợp quốc (1977), ASEAN (1995), WTO (2007), và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP (2018) và RCEP (2020). Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hai lần (2008-2009, 2020-2021) minh chứng cho sự trưởng thành và uy tín ngày càng cao của đất nước. Năm 2023, Việt Nam cũng được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, khẳng định cam kết mạnh mẽ với các giá trị nhân quyền toàn cầu.[17]

3 Bài học kinh nghiệm đối với ngành Ngoại giao Việt Nam

Trên chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, ngành Ngoại giao Việt Nam đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong thời gian tới, ngành ngoại giao cần tiếp tục đổi mới, thích ứng linh hoạt với tình hình quốc tế để giữ vững và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với phương châm cốt lõi là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Ngoại giao Việt Nam đã đúc rút nhiều bài học quan trọng nhằm áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả, linh hoạt.

Thứ nhất, bài học đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Chúng ta đã vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó, cái “bất biến” là lợi ích chiến lược của quốc gia, dân tộc, cái “vạn biến” là tình hình thế giới không ngừng thay đổi và những sách lược cụ thể của ta. Trong công cuộc đổi mới, lợi ích quốc gia - dân tộc cao nhất là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực cho phát triển đất nước, đồng thời giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.[18]

Thứ hai, kiên định tư tưởng độc lập, tự chủ trong đường lối đối ngoại, coi đây là nguyên tắc bất biến của ngoại giao để bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, ngoại giao cũng kết hợp chủ trương đa phương hóa và đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại, là bạn, đối tác tin cậy của các nước, nhất là các đối tác quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước. Ngoại giao Việt Nam đã luôn vận dụng nhuần nhuyễn bài học trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để đạt được mục tiêu cuối cùng là độc lập dân tộc, tự chủ trong các quyết định đối ngoại trên tinh thần hòa bình, đoàn kết quốc tế.[19]

Thứ ba, càng có thực lực mạnh thì ngoại giao càng có vị thế lớn, phát huy vai trò cao hơn trong thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Thực lực của đất nước ta ngày nay là sức mạnh tổng hợp, bao gồm cả sức mạnh cứng là quy mô kinh tế, tiềm lực quốc phòng và sức mạnh mềm là tinh thần bất khuất, quật cường, hòa hiếu của dân tộc, kinh nghiệm đổi mới và hội nhập quốc tế thành công, truyền thống ngoại giao Việt Nam cùng với vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế trọng yếu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.[20]

Vận hội mới của đất nước thênh thang, rộng mở. Thực hiện tốt các mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ đề ra chính sẽ góp phần vun đắp cơ đồ, nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc lên một tầm cao mới!