Trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nhiều công việc, nghề nghiệp khác nhau bên cạnh hoạt động cách mạng. Những công việc đó, không đơn thuần chỉ để xoay sở với cuộc sống ở hải ngoại; chúng dường như còn giúp làm sâu sắc thêm sự thấu hiểu của Người đối với nhân dân lao động, của những con người bị áp bức, cho lý tưởng cách mạng.

Thành phố Boston (Hoa Kỳ) vẫn còn lưu giữ một dấu tích giản dị mà sâu sắc về bước chân Người từng qua: khách sạn Omni Parker House - nơi chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, lúc ấy lấy tên là Văn Ba, từng làm việc với vai trò thợ làm bánh. Quá trình Người sinh sống và trải qua ở Boston là những bước đệm quan trọng đầu tiên trong hành trình nhận thức và cứu nước của Người. Mời các bạn cùng Galileo Society tìm hiểu rõ hơn về hành trình đó của Bác Hồ thông qua bài viết “Ký ức Boston - người thợ làm bánh yêu nước” nhé!

1 Boston - Điểm dừng nhỏ trên hành trình lớn

Cuối năm 1912, sau chuyến thăm cụ Phan Châu Trinh tại Paris, Hồ Chí Minh, khi ấy là Nguyễn Tất Thành, vẫn trăn trở với câu hỏi của cụ: “Cháu sẽ dừng chân ở đâu?” Và Người đã chọn Boston - nơi khởi nguồn của Cách mạng giành độc lập Hoa Kỳ - để tìm hiểu về ý chí tự do và bình đẳng. Những tên tuổi nổi tiếng như Jefferson, Lincoln và Washington cùng khát vọng độc lập của nước Mỹ đã thôi thúc Người chọn thành phố ven biển này làm điểm dừng chân đầu tiên tại Hoa Kỳ trên hành trình tìm đường cứu nước.[1] Tháng 10/1912, khi con tàu chở Nguyễn Tất Thành cập bến, Boston lúc đó là một thành phố cảng nhộn nhịp với nền kinh tế công nghiệp phát triển mạnh, thu hút hàng trăm nghìn người nhập cư, tạo nên một cộng đồng ngày càng đa dạng văn hóa và đầy sắc thái xã hội. [2][3] Theo Giáo sư Kevin Bowen, trong giai đoạn 1912–1913, Nguyễn Tất Thành sống giữa không khí đấu tranh sôi nổi với các cuộc tuần hành, biểu tình đòi cải thiện điều kiện sống và làm việc: từ phong trào Suffragettes đòi quyền bỏ phiếu cho đến cuộc đấu tranh của các tổ chức nghiệp đoàn vì điều kiện làm việc tốt hơn cho phụ nữ trong các nhà máy.[4] Bên cạnh đó, Boston còn được mệnh danh là “thành phố tri thức” - nơi quy tụ hàng loạt trường đại học danh tiếng và là cái nôi của tư tưởng tiến bộ ở Hoa Kỳ. Thành phố cũng nổi bật với truyền thống tranh luận chính trị mạnh mẽ, thể hiện qua những diễn đàn công cộng như Hội trường Faneuil và Diễn đàn Ford Hall. Đặc biệt, nơi đây là quê hương của Thư viện Công Boston - thư viện thành phố miễn phí đầu tiên của nước Mỹ.[5] Tất cả những điều kể trên đã tạo điều kiện lý tưởng để Nguyễn Tất Thành nhìn nhận và thấu cảm rõ về cuộc sống của người dân lao động Mỹ đồng thời giúp Người tiếp cận sớm với tư tưởng nhân quyền và tinh thần khai sáng phương Tây.

Trong quãng thời gian sống tại Boston, nơi Người chọn làm việc là khách sạn Omni Parker House. Khách sạn nằm trên tuyến phố sầm uất nhất của Boston và là trung tâm của các hoạt động chính trị. [6] Tại Omni Parker House, Nguyễn Tất Thành đảm nhận vị trí đầu bếp làm bánh. Từ căn bếp ấy, tại một chiếc bàn đá nhỏ, Người đã tạo nên những chiếc Boston Cream Pie và Lemon Meringue Pie - hai món tráng miệng nổi tiếng góp phần làm nên thương hiệu của khách sạn này. [7]

2 Boston: cơ sở thực tiễn cho con đường kách mệnh

Thời gian Bác sinh sống tại Boston chỉ kéo dài vỏn vẹn trong tám tháng,[8] nhưng những trải nghiệm quý báu nơi đây chính là tiền đề quan trọng hình thành nên nhãn quan sâu sắc về chính trị quốc tế của Bác. Hằng ngày, Bác vẫn chứng kiến các cuộc tuần hành, biểu tình đòi điều kiện sống và làm việc tốt hơn tại Boston, điều đó giúp Bác nhận ra rằng: mặc dù cách mạng tư sản Mỹ đã thành công, song sự áp bức bóc lột đối với người lao động và mâu thuẫn giai cấp vẫn tồn tại hết sức sâu sắc.[9] Nhận thức này, kết hợp cùng việc nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản lớn như cách mạng Pháp, Anh,... đã giúp Bác rút ra kết luận rằng: tất cả các cuộc cách mạng tư sản, kể cả Đại cách mạng Pháp đều là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”, bởi lẽ quần chúng nhân dân sau cách mạng vẫn sống trong cảnh đói khổ và áp bức. Chính điều này đã góp phần hình thành nên tư tưởng cốt lõi của Bác về con đường cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người.[10]

Bên cạnh đó, vào cuối tuần trong lúc rảnh rỗi, Bác thường đến thư viện đọc sách tại công Boston, cũng tại nơi này, Bác được trực tiếp đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 do Thomas Jefferson viết. Từng câu chữ về giá trị và quyền cơ bản của con người đã âm thầm in sâu vào lòng người thanh niên trẻ tuổi yêu nước, để rồi hơn 30 năm sau, những câu chữ ấy đã vang lên tại quảng trường Ba Đình lịch sử: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. [11] [12] Ngoài ra, Bác rất quan tâm đến cuộc sống của người da đen và cuộc đấu tranh giành bình đẳng của họ, Bác là một trong những nhà lãnh đạo cộng sản Châu Á đầu tiên khám phá các vấn đề mà cộng đồng người da đen phải đối mặt và ủng hộ phong trào tự do cho họ. [13] Thực tiễn đó đã cho Bác cảm nhận sâu sắc về sự bất công và thống khổ của người da đen trong lòng xã hội Mỹ, giúp Bác đúc kết một quan điểm sâu sắc: “Mặc dù màu da và tiếng nói khác nhau, nhân loại chung quy chia làm hai hạng người: hàng người chuyên đi áp bức bóc lột và hạng người bị áp bức bóc lột….” Như nhà sử học Pierre Brocheux nhận định về quá trình hình thành tư tưởng cách mạng của Bác rằng, chính trong những tháng ngày lăn lộn với thợ bánh Boston và người da màu nghèo khổ, Bác đã hình thành tư tưởng về một chủ nghĩa xã hội mang gương mặt Việt Nam – nơi độc lập dân tộc và công bằng xã hội là hai mặt không thể tách rời.[14]

3 Ký ức mãi âm vang

Thực tiễn sinh động mà người thanh niên Văn Ba chứng kiến trong quãng thời gian sinh sống tại Boston đã góp một phần kiến tạo nên tư tưởng nhân quyền, quyền bình đẳng sắc tộc mà Người luôn đau đáu. Được luận dẫn trong những bài báo về hành hình Lynch, về tổ chức Ku Klux Klan - Người chỉ đích danh sự tàn bạo của chúng đối với người da màu, với các nhóm thiểu số trên nước Mỹ - tư tưởng ấy đã phát huy hết sức mạnh của mình khi Người trở thành nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng tại trung tâm chính trị của châu Âu bấy giờ - Paris.[15] Không phải tự nhiên những liên hệ thú vị giữa Người với nhà hoạt động nhân quyền Malcolm X lại được để ý: Cả hai đều sinh vào ngày 19/5, đều từng làm việc tại khách sạn Omni Parker House; trên hết, đều cùng hướng tới loại bỏ sự bất công, bất bình đẳng.[16] Âm hưởng vang vọng chưa bao giờ đơn thuần chỉ là con người và phẩm hạnh của Bác; đó còn là tất cả hệ giá trị nhân văn mà Bác luôn cống hiến, luôn cùng tuần hành vì một xã hội tiến bộ, văn minh và bình đẳng hơn.

Trong chuyến thăm chính thức đầu tiên giữa hai chính phủ sau 30 năm chiến tranh kết thúc của Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005, phái đoàn cấp cao đã đến thăm khách sạn Omni Parker House, cùng thưởng thức món bánh nổi tiếng và lắng nghe câu chuyện về Bác: “​​Chúng ta ăn chiếc bánh hôm nay có vị ngọt để nhớ vị đắng cay, vất vả lẫn trong những chiếc bánh mà ngày xưa Bác Hồ chúng ta đã làm, khi Bác đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc…” [17] Năm 2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đã ghé thăm và để lại lưu bút tại khách sạn Omni Parker House, khẳng định vai trò của Người trong sự nghiệp giải phóng đất nước và quan hệ Việt Nam - Mỹ; bày tỏ sự trân trọng trước sự tiếp đãi và công tác kỷ niệm của khách sạn dành cho Người.[18]

Không gian lưu trữ sâu sắc nhất phải là ký ức của mỗi người về Bác. Sự niềm nở của quản lý nhân viên lễ tân hay của người giám sát làm bánh mỗi khi có du khách đến và bày tỏ sự quan tâm đối với Hồ Chủ tịch; những đoàn khách người Việt mang bánh và hoa đến khách sạn mỗi dịp 19/5. Đặc biệt, giới học giả, nhà báo Mỹ cũng dành nhiều sự tôn trọng khi nghiên cứu về hoạt động của Người: giáo sư, cựu chiến binh Kevin Bowen với các công trình nghiên cứu chi tiết về đời sống và hoạt động của Bác tại Boston;[19] tác giả Susan Wilson với nhận định rằng kỹ năng làm bánh của Văn Ba không thể sánh bằng với sự nghiệp giải phóng đất nước Người.[20]

Cuộc đời là một thợ bánh hay bao mẩu chuyện khác về đời sống và hoạt động cách mạng thực sự là những phương tiện đã giúp hiểu thêm về Người; có thêm cơ hội để trân trọng một con người phi thường đã hy sinh, bươn chải để thấu hiểu những bất công của nhân dân lao động, của dân tộc bị áp bức và dám đơn độc một mình ra đi tìm đường cứu nước. Sự cống hiến cao cả đó của Người, sẽ luôn được trân quý và biết ơn dù ở bất cứ đâu, ở bất cứ tâm hồn nào đã được truyền cảm hứng bởi sự nghiệp vĩ đại của Người.