Ngày này 80 năm về trước, tại thủ đô Berlin (Đức), đại diện Đức Quốc Xã, Phát xít Ý và Đế quốc Nhật Bản đã ký kết Hiệp ước Ba bên, đánh dấu chính thức cho sự hình thành liên minh phe Trục giữa các bên khơi mào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Theo các điều khoản của hiệp ước, cả ba nước công nhận phân vùng phạm vi ảnh hưởng của nhau với Đức, Ý ở châu Âu và Nhật Bản ở Đại Đông Á. Ba bên sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp bị một bên thế lực bên ngoài không liên quan tới cuộc chiến tại châu Âu và cuộc chiến tại Trung Quốc tấn công (ám chỉ Hoa Kỳ và Liên Xô). Các điều khoản của hiệp ước có thời hạn trong vòng 10 năm.
Ngược dòng thời gian, vào cuối năm 1936, Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản đã được ký kết giữa Đức và Nhật Bản (Ý tham gia một năm sau đó) với mục tiêu nhằm vào Liên bang Xô viết. Thế nhưng với việc ký kết Hiệp ước bất tương xâm giữa Moscow và Berlin (1939), cũng như sự thất thế của phe “Bắc phạt” trong chính quyền Tokyo sau các giao tranh thất bại tại Mông Cổ trước Tướng Zhukov (1940) đã khiến Nhật Bản và Đức gặp mâu thuẫn trong cách tiếp cận với Liên Xô. 
Hệ quả của điều này là việc Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản không được củng cố và cuối cùng Hiệp ước Ba bên ra đời với mục tiêu chung mà các bên có thể thống nhất được với nhau một cách thực chất, đó chính là nước Anh và xa hơn nữa là gã khổng lồ tại Tây Bán cầu. Điều này có thể thấy trong bức thư gửi Đại sứ Nhật tại Đức vào ngày 7 tháng 3 năm 1939 của Bộ trưởng Ngoại giao Đức Ribbentrop: “Quan trọng nhất, điều mà Đức và Ý trông cậy vào Nhật Bản trong Hiệp ước ba bên đó là phải chế ngự được Hoa Kỳ và giữ nước này giữ vai trò trung lập. Nói cách khác, mục đích ưu tiên của thỏa thuận này là về mặt chính trị, để đảm bảo Hoa Kỳ không can thiệp vào châu Âu”.
Liên bang Xô viết cũng là một bên được lôi kéo vào thỏa thuận này nhằm hình thành một liên minh trải dài khắp lục địa Á – Âu. Sự tham gia của Liên Xô được phía Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ với 3 mục tiêu chính: (i) giúp giải quyết tình hình tại Trung Quốc theo hướng có lợi cho Nhật; (ii) tập trung vào học thuyết “Nam tiến” hay nói cách khác là “giữ vững phía Bắc, tiến xuống phía Nam” để lấp đầy khoảng trống quyền lực tại Đông Nam Á sau khi Pháp và Hà Lan sụp đổ, cũng như sự suy yếu của nước Anh; và (iii), ngăn cản việc can dự của Hoa Kỳ nhằm thách thức tham vọng của Nhật tại châu Á. 
Về phía Đức, Bộ trưởng Ngoại giao Ribbentrop cũng tán thành một Hiệp ước Tứ cường với sự mở rộng thành viên đến từ Liên bang Xô Viết. Trong bức thư gửi nhà lãnh đạo Stalin vào ngày 13 tháng 10 năm 1940, Ribbentrop viết: “Trong tầm nhìn của Quốc trưởng, sứ mệnh lịch sử của bốn cường quốc Liên Xô, Ý, Nhật Bản, và Đức là theo đuổi một chính sách dài hạn và dẫn lối cho sự phát triển trong tương lai của người dân các nước vào đúng hướng bằng việc phân chia lợi ích của nhau trong một phạm vi toàn cầu”. 
Nhà lãnh đạo Liên Xô đáp lại bằng việc cử Bộ trưởng Ngoại giao Molotov đến Berlin trong chuyến thăm chính thức từ ngày 12-13 tháng 11 năm 1940 để bàn thảo về các điều khoản bổ sung cho sự gia nhập của Liên xô. Tuy nhiên Hitler lại không bằng lòng với các điều khoản này và vốn nuôi dã tâm xâm lược Liên Xô để mở rộng “không gian sinh tồn cho người Đức” nên đã ngăn cản việc thực hiện ý tưởng của Ribbentrop. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, người đứng đầu Đức Quốc Xã đã ra “Chỉ thị số 21 của Quốc trưởng – Chiến dịch Barbarossa” ra lệnh cho quân đội Đức chuẩn bị cho việc xâm lược Liên Xô, việc đàm phán Hiệp ước Tứ Cường coi như đổ bể. 
Cảm nhận được một cuộc chiến giữa Đức và Liên Xô đang đến gần, Nhật Bản lo ngại có thể bị cuốn vào một thảm hoạ nếu cùng lúc theo đuổi “Nam tiến” – vốn đã xác định việc chọc giận Hoa Kỳ – trong khi đó lại có khả năng dính vào cuộc chiến tranh với Liên Xô. Chính vì vậy, Tokyo đã áp dụng một chiến lược riêng của mình và ký kết Hiệp ước Trung lập với Moscow vào ngày 13 tháng 4 năm 1941, chỉ hai tháng trước khi kế hoạch Barbarossa được triển khai.
Hiệp ước Ba bên trên thực tế lại không đạt được những kỳ vọng mà các bên ký kết đề ra. Sự xa cách về mặt địa lý, vị thế thống trị trên đại dương của phe Đồng minh cũng như việc theo đuổi các chiến lược khác nhau giữa các nước phát xít đã khiến việc tương trợ thực chất chỉ như “muối bỏ bể” nếu như so sánh với các hoạt động tương trợ của phe Đồng minh. Mục tiêu chế ngự Hoa Kỳ cũng chẳng giữ được lâu khi gã khổng lồ tại Tân Thế giới thức giấc sau thảm họa tại Trân Châu Cảng. Tệ hại hơn, ưu tiên của Washington lại là mặt trận châu Âu, chứ không phải châu Á như những gì Hitler và nội các của mình hi vọng. Cuối cùng, việc chấm dứt chính thức cho viễn cảnh một Hiệp ước Tứ cường sau ngày 22 tháng 6 năm 1941 đã đem đến cho phe Đồng minh một nhân tố quan trọng giúp xoay chuyển cục diện cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Trục Phát xít Berlin – Rome – Tokyo sẽ sớm cảm nhận được cơn ác mộng tạo ra bởi chính ảo tưởng của Hitler.

Nguồn tham khảo:
Japan and the Tripartite Pact, http://www.nids.mod.go.jp/eng.../event/forum/pdf/2010/08.pdf
Tripartite Pact between Japan, Germany and Italy, http://www.nids.mod.go.jp/eng.../event/forum/pdf/2016/03.pdf
German Strategy in the Tripartite Pact during the Second World War, http://www.nids.mod.go.jp/eng.../event/forum/pdf/2010/06.pdf